Trước khi bị Pháp đô hộ, nền giáo dục ở Việt Nam là nền giáo dục cũ của Nho gia, gọi nôm na là “cái
học của nhà Nho” như nhiều người thường nói. Nền giáo dục cũ này chịu
ảnh hưởng nặng nề của Trung Hoa, từ chương trình, sách vở, lối học đến
cách thức thi cử. Tổ chức giáo dục xưa được Đào Duy Anh ghi lại như sau
trong quyển Việt Nam Văn Hóa Sử Cương:
“Ở mỗi huyện có quan Huấn đạo, mỗi phủ có quan Giáo thụ, dạy Tứ Thư
Ngũ Kinh cho học trò khá. Ở mỗi tỉnh có quan Đốc học dạy các sinh đồ cao
đẳng. Ở Kinh đô có trường Quốc tử giám. Các vị học quan kể trên đều ở
dưới quyền giám đốc của bộ Lễ hoặc bộ Học. Trong dân gian thì xưa nay
việc học vẫn hoàn toàn tự do. Thầy học thì có thầy khóa, thầy đồ, thầy
tú dạy trẻ con, cho đến bậc đại khoa không xuất chính, hay các quan trí
sĩ, có người dạy đến trăm nghìn học trò.”
Trường học thì phần lớn là nhà riêng của ông thầy, hoặc ở chùa hay
ở đình, miểu trong làng. Giáo dục có thể xem như là công việc của nhà
nho hơn là của quốc gia, không thuộc một cơ quan công quyền với sự tài
trợ và kiểm soát đôn đốc của chính phủ. Không có một hệ thống tổ chức
qui mô của một nền giáo dục quốc gia gồm đủ cơ sở và nhân viên giảng
huấn và điều hành từ trung ương đến địa phương, từ cấp thấp (như tiểu
học) lên cấp cao (như đại học). Chương trình học thì gồm có mấy quyển
Tam Tự Kinh, Sơ Học Vấn Tân, Ấu Học Ngũ Ngôn Thi, Dương Tiết và Minh Tâm
Bửu Giám ở cấp vở lòng, xong rồi lên trên thì học Bắc sử (tức sử Tàu)
và Tứ Thư Ngũ Kinh. Tất cả những sách này là sách gối đầu giường của Nho
gia, chú trọng hầu hết vào triết lý, luân lý, đạo đức chứ không có một ý
niệm khoa học kỹ thuật nào chen vào. Phương pháp giảng dạy thì phần lớn
như Đào Duy Anh tả: “thầy thì cứ nhắm mắt mà giảng chữ nào nghĩa nấy
chỉ sợ sai mất nghĩa của Tống Nho.” Phương pháp học hỏi thì hoàn toàn
dựa vào sự học thuộc lòng thu gọn vào trong công thức “sôi kinh nấu sử”
tức là học tới học lui mãi cho đến khi nào thuộc nằm lòng Tứ Thư Ngũ
Kinh và Bắc sử. Người đi học thực tập nhiều nhất là viết chữ cho thật
đẹp như “phụng múa rồng bay”, làm thơ, làm phú, kinh nghĩa, văn sách,
chế chiếu, biểu, câu đối, cho thật nhanh, thật khéo và thật chỉnh, dùng
được càng nhiều điển tích càng hay để có thể đậu được các kỳ thi do
triều đình tổ chức. (Có ba kỳ thi: thi Hương tổ chức ở một số địa phương
để lấy Tú Tài; thi Hội và thi Đình tổ chúc ở trung ương để lấy Cử Nhân
và Tiến Sĩ). Tất cả các kỳ thi đều là thi tuyển và chỉ nhắm vào một kỷ
năng của thí sinh là làm văn làm thơ dưới nhiều dạng như thơ đường luật,
kinh nghĩa, văn sách, v v … Thường thì ba năm mới có một khoa thi, và
đi thi là cả một vấn đề khổ nhọc cho sĩ tử vì trường thi ở xa, đường
giao thông khó khăn, phương tiện giao thông còn rất thiếu kém. Thi đậu
được thì có thể ra làm quan, không thì lui về làm thầy đồ thầy khóa,
“tiến vi quan, thối vi sư” vậy.
[…]
Giới sĩ phu là giới sát cạnh nhà vua, giúp vua trị nước, thuộc
hàng ngũ lãnh đạo quốc gia, là bậc thầy trong xã hội, đóng vai dẫn đầu,
điều khiển, hướng dẫn dân chúng trong mọi sinh hoạt bảo vệ và phát triển
đất nước. Nước giàu dân mạnh hay suy nhược đói nghèo, trách nhiệm ở
giới lãnh đạo, ở Kẻ Sĩ, nhà Nho. Lớp trí thức nho sĩ cũng như cái học cũ
của nho gia ngự trị trong xã hội Việt Nam từ thời Lý Trần cho đến khi
có sự xăm chiếm và đô hộ của người Pháp hồi cuối thế kỷ XIX trong Nam và
đầu thế kỷ XX ở miền Bắc và Miền Trung. Riêng trong Nam thì vì Nam Kỳ
Lục Tỉnh chỉ mới được thành hình trọn vẹn từ giữa thế kỷ XVIII cho nên
sự giáo dục ở đây chưa được tổ chức rộng rãi, chưa có cội rễ ăn sâu vào
lòng đất như ở chốn ngàn năm văn vật của Thăng Long – Hà Nội . Tính ra
thì Nho học chỉ có được chừng một thế kỷ ngự trị ở Phương Nam. Mãi đến
năm 1826 Miền Nam mới có vị Tiến Sĩ đầu tiên theo lối học xưa là cụ Phan
Thanh Giản. Nhưng nền học vấn cổ truyền của nho gia này ở Miền Nam chỉ
mới có chừng trăm năm thì bị sụp đỗ hẵn bởi sự thất bại, suy vong của
triều Nguyễn trước sức mạnh quân sự và nền văn minh khoa học kỹ thuật Âu
Tây. Khi nền cai trị của chính quyền đô hộ Pháp được thiết lập xong thì
cái học nhà nho cũng bị xóa bỏ để nhường chỗ cho cái học mới hay Tây
Học.
[…]
Cái học mới này (tân học) diễn ra ở Miền Nam trước nhất vào cuối
thế kỷ XIX sau khi người Pháp đặt xong nền đô hộ ở đây. Nền giáo dục mới
này lấy giáo dục Pháp làm khuôn mẫu, dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ.
Trường học gồm có các trường công do chính phủ xây cất, đài thọ chi phí
và kiểm soát, và một số trường tư của Thiên Chúa giáo hoặc của tư nhân.
Hệ thống giáo dục mới này được thiết lập nhằm hai mục tiêu: (1) mục tiêu
thực tiễn là đào tạo một số người biết tiếng Pháp, chữ Quốc Ngữ, và có
chút kiến thức về văn minh Tây phương để làm công chức ở ngạch trật thấp
phục vụ cho chính phủ thuộc địa, và (2) mục tiêu lý tưởng là đồng hóa
người bản xứ biến họ thành những người Pháp về phương diện văn hóa. Một
số nhà trí thức Pháp tự cho họ cái sứ mạng cao cả là đem văn minh khoa
học Âu Tây phổ biến khắp nơi. Đó là sứ mạng văn minh hóa (“mission
civilisatrice”) tức là đi khai hóa các nước chậm tiến, kém văn minh, kém
mở mang. Người đầu tiên thực hiện chính sách đồng hóa văn hóa (cultural
assimilation) đó ở Miền Nam là Thống Đốc Le Myre de Vilers. Ông là
người dân sự đầu tiên được cử sang làm Thống Đốc Nam Kỳ từ năm 1879 đến
1892. Các ông thống đốc trước ông đều là những người bên quân đội, nhất
là bên hải quân. Để thực hiện sứ mạng văn minh hóa dân bản xứ, ông cho
mở rất nhiều trường ở mỗi làng và mỗi tổng cho cấp sơ và tiểu học. Tuy
nhiên vì thiếu hụt ngân sách vàkhông đủ giáo chức cho nên nhiều trường
chỉ được mở ra rồi liền sau đó lại đóng cửa thôi. Sang đầu thế kỷ XX chế
độ giáo dục mới mới được thiết lập ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ sau một vài sửa
đổi theo quyết định của Toàn Quyền Paul Beau hồi 1906-07. Theo quyết
định này thì một hội đồng cải tổ giáo dục được thành lập để đem chữ Quốc
Ngữ, chữ Pháp và nền tân học vào chương trình học và chế độ khoa cử
mới. Các thầy đồ, thầy khóa ở xã thôn, các quan giáo huấn, đốc học ở
phủ, huyện, tỉnh, phải dạy thêm chữ Quốc Ngữ cho học trò ngoài việc dạy
chữ Hán như trước.
Các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình đều có có chút đổi mới từ
1909. Bài luận chữ Quốc Ngữ và bài dịch Pháp văn ra Việt văn được thêm
vào các kỳ thi nhưng chỉ là môn phụ và có tính cách tự nguyện chớ không
bắt buộc. Trong kỳ thi Hội và thi Đình năm 1910 có thêm bài thi cách
trí, địa dư nước nhà, sử Thái Tây, nhân vật nước nhà và thời sự. Đặc
biệt là bài thi được chấm điểm theo lối mới của Pháp với thang điểm từ 0
đến 20. Triều đình tựa trên thang điểm đó mà định làm 6 hạng trúng
tuyển: Trạng Nguyên (20 điểm), Bảng Nhỡn (18-19 điểm), Thám Hoa (16-17
điểm), đệ nhị giáp Tiến Sĩ (từ 12 đến 15 điểm), Đồng Tiến Sĩ (từ 10 đến
12 điểm), và Phó Bảng (từ 7 đến 9 điểm). Song song với việc thành lập
hội đồng cải cách giáo dục, một trường sư phạm cũng sẽ được thiết lập để
đào tạo giáo viên tiểu học người Việt. Ngoài ra, trong mục đích tuyên
truyền, Toàn Quyền Paul Beau cũng cho mở một trường đại học hồi năm 1907
ở Hà Nội để thu phục nhân tâm (sau khi chính quyền cho đóng cửa Đông
Kinh Nghĩa Thục và bắt giam một số nhà cách mạng). Nhưng đại học chỉ
được mở ra mà không hoạt động, phải đến năm 1918, dưới thời Toàn Quyền
Albert Sarraut, trường mới thật sự mở cửa. Trước đó một năm, năm 1917,
chánh quyền thuộc địa đã cho ban hành một hệ thống giáo dục mới có qui
cũ, thống nhất trên toàn quốc, về tất cả các phương diện tổ chức hành
chánh, chương trình học, qui chế giáo chưc, và tổ chức thi cử. Đến đây
cái học cũ trên toàn quốc hoàn toàn lui vào bóng tối nhường chổ cho giáo
dục mới.
Người sốt sắng thực hiện mục tiêu văn minh hóa người Việt Nam là
Le Myre de Vilers. Để thực hiện sứ mạng văn minh hóa người Việt ông cho
mở rất nhiều trường học, từ trường sơ cấp ở làng đến trường tiểu học ở
quận và tỉnh, và đặc biệt nhất là một trường trung học (collège) ở Nam
Kỳ. Đây là trường trung học đầu tiên và vào cuối thế kỷ XIX đây là
trường trung học duy nhất cho cả Miền Nam. Trường chỉ có hai năm học và
mang tên là Collège de MỹTho. Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1885-1958) đã từng
học ở trường này. Sang thế kỷ XX trường có đủ bốn năm học và được đổi
tên là Collège Le Myre de Vilers, do một số giáo sư của trường đề nghị
để ghi nhớ ông Thống Đốc dân sự đầu tiên đã mở ra trường này và cũng để
ghi nhớ công lao của ông đối với việc phát triển nền giáo dục mới ở Nam
Kỳ. Đến giữa thập niên 1950 trường được phát triển thêm, có các lớp đệ
nhị cấp đủ để trở thành trường trung học đệ nhị cấp. Trường được đổi
thành Lycée và mang tên một danh nhân Miền Nam Việt Nam: cụ Đồ Chiểu.
Danh xưng Lycée Nguyễn Đình Chiểu rồi Trung Học Nguyễn Đình Chiểu ra đời
từ đó và còn mãi đến bây giờ.
[…]
Giáo dục, hiểu theo nghĩa xã hội, là cách thức xã hội hóa
(socializing) con người. Giáo dục có nhiệm vụ dạy cho con người biết
cách sống trong xã hội, biết nền văn hóa mà con người được sinh ra trong
đó để sống cho thích hợp. Cách ăn uống, lễ phép, cách đối xử, các nghề
nghiệp sinh sống, phong tục tập quán, v v … tất cả đều có trong xã hội
đương thời và nhiệm vụ của giáo dục (từ giáo dục trong gia đình đến giáo
dục ngoài xã hội) là tập luyện cho con người thích nghi vào trong xã
hội văn hóa đó. Tuy nhiên trong ba bậc học (tiểu học, trung học, và đại
học) ở học đường, mỗi bậc có cách xã hội hóa khác nhau. Ở tiểu học giáo
dục nhằm xã hội hóa con người ở mức độ cơ bản, nghĩa là người ta chỉ dạy
những cái cần thiết căn bản của xã hội. Ở bậc trung học sự xã hội hóa
nhắm vào việc thích nghi con người vào tình trạng văn hóa mà người ta
muốn có. Thường khi người ta (các nhà làm chính trị, những nhà lãnh đạo)
muốn có xã hội thế nào thì người ta nhắm vào lớp người vào trung học để
đào luyện họ trỡ thành những công dân kiểu mẫu cho xã hội người ta muốn
có. Những người này sẽ được xã hội hóa để bảo tồn những gì đã có. Ở bậc
đại học sự xã hội hóa bớt đi rất nhiều tính cách uốn nắn mà thường có
tính cách khơi động nhiều hơn. Người lên đại học phải mở rộng sự hiểu
biết của mình để đón nhận những mới lạ để có thể hướng xã hội đến những
sửa đổi, tiến triển, hiện đại nhiều hơn là bảo tồn những gì đã có sẵn từ
trước. Các trường trung học của chúng ta cũng đóng vai trò xã hội hóa
học sinh giống như bao nhiêu trường trung học khác trên thế giới. Việc
xã hội hóa ở đây là thích nghi con người vào trong xã hội Miền Nam nước
Việt vào giữa thế kỷ XX.
Vào cuối thế kỷ XIX Nam Kỳ có khoảng một triệu rưởi dân số, nhưng
chỉ có khoảng 5 ngàn học sinh cho tất cả từ sơ cấp đến tiểu học. Tỷ lệ
người đi học tuy thấp so với sĩ số mà ta có sau này dưới thời Đệ Nhị
Cộng Hòa, nhưng so với thời đại các nhà Nho thì đây là con số khá lớn.
Số đông này là số được hấp thụ giáo dục mới. Họ sẽ là lớp người dùng chữ
Quốc Ngữ thay chữ Nôm và chữ Hán, họ cũng là những người biết chút ít
tiếng Pháp và một số kiến thức khoa học phổ thông có thể xem như là giới
trí thức tân học ở thời kỳ chuyển tiếp này.
Đó là tình trạng giáo dục ở Miền Nam. Và đến năm 1917 chính quyền
thuộc địa mới có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam,
Trung, Bắc. Hệ thống giáo dục mới này – gọi là Giáo Dục thời Pháp thuộc –
gồm có ba bậc: Tiểu học, Trung học, và Đại học.
Bậc Tiểu học được chia làm hai cấp:
(1) cấp Sơ học gồm các lớp Đồng Ấu (Cours Enfantin) hay lớp Năm hoặc lớp
Chót, lớp Dự Bị (Cours Preparatoire) hay lớp Tư, và lớp Sơ Đẳng (Cours
Elementaire) hay lớp Ba,
(2) cấp Tiểu học gồm có lớp Nhì Một Năm (Cours Moyen Première Année),
lớp Nhì Hai Năm (Cours Moyen Deusième Année) và Lớp Nhất (Cours
Supérieur). Mỗi làng có một trường sơ cấp. Ở tổng lớn hay ở quận (đông
dân) có thể có trường tiểu học nếu có đông học sinh. Tại mỗi tỉnh lỵ có
một trường tiểu học lớn (có nhiều lớp cho mỗi cấp lớp), như trường Nam
Tiểu học Mỹ Tho chẳng hạn có được 5 lớp Nhất, 1 lớp Tiếp Liên (Cours des
Certifiés) hồi thập niên 1940.
Học xong lớp Ba, tức là hết Sơ cấp, học sinh phải thi tuyển vào
lớp Nhì Một Năm để học tiếp bậc Tiểu học, và khi xong lớp Nhất (hết bậc
Tiểu học) học sinh lại phải thi lấy bằng Sơ Tiểu tiếng Pháp viết tắt là
bằng CEPCI (tức là Certificat d’Études Primaire Complémentaire
Indochinoise). Đậu xong bằng này học sinh mới được dự kỳ thi tuyển vào
năm Thứ Nhất trường Trung học.
Bậc Trung học cũng chia làm hai cấp.
Cấp thứ nhất gọi là Cao Đẳng Tiểu Học (Enseignement Primaire
Superieur, cũng như trung học đệ nhất cấp sau này) gồm có bốn lớp: Năm
Thứ Nhất (Première Année), Năm Thứ Nhì (Deuxième Année), Năm Thứ Ba
(Troisième Année) và Năm Thứ Tư (Quatrième Année). Học xong Năm Thứ Tư
học sinh thi lấy bằng Thành Chung hay DEPSI (Diplôme d’Études Primaire
Superieur Indochinois). Những ai muốn thi lấy bằng cắp Pháp thì có thể
thi bằng Brevet Premier Cycle hay Brevet Elementaire.
Cấp thứ hai là ban Tú Tài gồm các lớp Second (như Đệ Tam hay lớp
10 sau này), Première (như Đệ Nhị hay lớp 11) và lớp Terminale (như Đệ
Nhất hay lớp 12). Xong lớp Première (Đệ Nhị hay lớp 11) học sinh phải
thi Tú Tài I (Baccalauréat Première Partie), đậu được Tú Tài I mới được
vào học lớp Đệ Nhất hay lớp 12.
Học hết lớp 12 học sinh phải thi lấy bằng Tú Tài II (Baccalauréat
Deuxième Partie). Khi lên lớp Terminale (lớp 12) học sinh phải chọn một
trong ba ban chính sau đây: (1) ban Triết (Philosophie), (2) ban Khoa
Học Thực Nghiệm (Sciences Expérimentales), và (3) ban Toán
(Mathématiques Élémentaires)… Học hết lớp 12 học sinh phải thi lấy bằng
Tú Tài II (Baccalauréat Deuxième Partie) về một trong các ban nói trên.
Bằng Tú Tài II thường được gọi tắt là Bac. Philo. (Tú Tài II ban Triết),
Bac. Math. (Tú Tài II ban Toán) v v …
Xong Tú Tài học sinh mới được vào Đại học, và dưới thời Pháp thuộc
chỉ có một đại học duy nhất ở Hà Nội cho toàn cõi Đông Dương. Một số
không nhỏ học sinh Việt Nam, nhất là ở Miền Nam, sau khi xong Tú Tài
thường qua Pháp học tiếp bậc đại học thay vì ra Hà Nội học.
Chương trình học trên đây chịu ảnh hưởng nặng nề của chương trình
Pháp, dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ. Tiếng Việt chỉ được xem như một
sinh ngữ phụ. Đúng ra đây chỉ là chương trình Pháp thật sự nhưng có chút
sửa đổi nhỏ áp dụng cho các trường Việt Nam. Chương trình này kéo dài
đến hết Thế Giới Đại Chiến Thứ Hai trên toàn cỏi Việt Nam.
Sau năm 1945, sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, chương trình Việt
được ban hành. Chương trình này – chương trình Hoàng Xuân Hản – được
đem ra áp dụng trước ở Bắc Việt và Trung Việt, nhưng riêng ở Miền Nam
thì vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp
tục.
Dưới thời Pháp đô hộ giáo dục phát triển rất chậm chạp. Quyền
quyết định về giáo dục cũng như chính sách giáo dục hoàn toàn nằm trong
tay người Pháp.
Phải đến giữa thập niên 1950, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, chương trình
Việt mới bắt đầu được áp dụng ở trong Nam để thay thế chương trình Pháp.
Cũng từ khoảng thời gian đó, thời Đệ Nhất Cộng Hòa, các nhà lãnh đạo
giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo quan trọng của họ.
Những đóng góp của họ thật lớn lao đưa đến sự bành trướng và phát triển
vô cùng mạnh mẽ của nền giáo dục quốc gia dưới thời Đệ Nhất và Đệ Nhị
Cộng Hòa.
[…]
Triết lý giáo dục VNCH nằm trong những Nguyên Tắc Căn Bản do Bộ
Giáo Dục ấn hành năm 1959 và sau đó được ghi lại trong hiến pháp 1967.
Những nguyên tắc căn bản này được tóm lược như sau:
Thứ nhất:
Giáo dục Việt Nam là giáo dục nhân bản (humanistic education). Nhân
là người hay con người, bản là gốc là căn bản. Trong lãnh vực triết lý,
thuyết nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong đời
sống trên thế gian này. Thuyết nhân bản lấy con người làm gốc, lấy cuộc
sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản chớ không nhắm đến
linh hồn hay một cuộc đời nào khác ngoài thế giới mà loài người hiện
đang sống trong đó. Theo thuyết này, con người có giá trị đặc biệt của
con người, cao cả hơn tất cả các giống sinh vật khác trên đời này. Chỉ
có con người mới có văn hóa, có những hoạt động có suy tư, có sáng tạo,
làm cho cuộc sống của con người tiến hóa luôn từ xưa đến giờ. Nhân bản
cũng chỉ tính cách linh thiêng của con người, khác hơn mọi loài vật,
“nhân linh ư vạn vật”, và con người phải được tôn trọng bởi tính linh
thiêng đó. Con người tự nó là một cứu cánh chớ không phải là một phương
tiện. Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân nhưng
không chấp nhận dùng sự khác biệt đó để đánh giácon người, và không
chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo,
chủng tộc… Với triết lý nhân bản, con người có giá trị của con người như
nhau, và mọi người đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về
giáo dục.
Thứ hai:
Giáo dục Việt Nam là giáo dục dân tộc (nationalistic education).
Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt
liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và
phát huy được những tinh anh hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa
dân tộc. Dân tộc Việt Nam có mặt trên thế giới này từ bao nhiêu ngàn
năm trước. Dân tộc đó có tiếng nói riêng, có lịch sử riêng, có một nền
văn hóa riêng của nó từ bao đời. Dân tộc tính đó trong văn hóa cần phải
được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị tan biến hay
tiêu trầm trong những nền văn hóa khác.
Thứ ba: Giáo dục Việt Nam là giáo dục khai phóng. Tinh thần dân tộc
không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng kín cữa. Ngược
lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật
tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội,
giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia xã
hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.
[…]
Từ những nguyên tắc căn bản trên đây, quan niệm về giáo dục của
Việt Nam Cộng Hòa bao gồm những tư tưởng nền tảng sau đây liên hệ tới
những mục tiêu chính của giáo dục:
Phát triển toàn diện mỗi cá nhân. Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và
giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn
diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những định
luật phát triển tự nhiên về vật lý và tâm lý. Nhân cách và khả năng
riêng của mỗi cá nhân học sinh phải được lưu ý đúng mức. Cung ứng cho
học sinh đầy đủ tin tức, dữ kiện, để học sinh phán đoán, lựa chọn, không
che dấu tin tức hay chỉ cung cấp những tin tức chọn lọc thiếu trung
thực để nhồi sọ học sinh theo một chủ trương, một hường đi định sẵn nào.
Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh bằng cách: giúp học
sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sinh sống, và lối sống của
người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở
mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc
chống ngoại xăm bảo vệ tổ quốc, yêu thương giúp đở nhau trong tình đồng
bào; giúp học sinh học tiếng Việt và xử dụng tiếng Việt một cách có hiệu
quả; giúp học sinh nhận biết cái đẹp của quê hương xứ sở, những tài
nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc;
giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá
trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.
Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học bằng cách:
giúp học sinh tổ chức những nhóm tự trị với sự phát triển tinh thần cộng
đồng và ý thức tập thể; giúp phát triển sự phán đoán với tinh thần
trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa
học; giúp đón nhận những giá trị văn hóa rộng rãi.
Tóm lại, mục đích của giáo dục quốc gia là giúp mỗi cá nhân phát
triển toàn diện để trở thành những người có kỹ năng thưc tiễn, có khả
năng tư duy, để làm việc, sinh sống, có đạo đức, có tình người, để gây
dựng hạnh phúc gia đình và hội nhập vào xã hội góp phần vào việc bảo vệ
và phát triển quốc gia. Người được đi học sẽ trở thành người tốt và có
ích cho chính mình, cho gia đình, và cho quốc gia dân tộc. Giáo dục Việt
Nam không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt giai cấp xã hội, không
phân biệt tôn giáo, địa phương, chủng tộc. Giáo dục Việt Nam cố tạo
những cơ hội đồng đều cho mọi người được đi học tuy nhiên không phải ai
cũng có thể học được đến hết bậc đại học, hay ai cũng học đến bác sĩ, kỷ
sư hoặc các ngành cao đẳng chuyên nghiệp khác. Tùy theo hoàn cảnh, tùy
theo khả năng và sở thích, có người chỉ học được hết Tiểu Học, có người
học hết Trung Học Đệ Nhất Cấp, hay Trung Học Đệ Nhị Cấp, có những người
khác thì học đến hết bậc đại học. Nhưng dù bất cứ học đến bậc học nào,
mục đích của giáo dục vẫn phải là giúp tất cả mọi người trở thành người
tốt, người đã được phát triển về khả năng cũng như đạo đức, dù khả năng
đó ở mức đô nào. Nếu có những người chỉ có cơ hội học hết Tiểu Học thôi,
thì giáo dục vẫn có bổn phận giúp họ phát triển đến hết mức đó, và vẫn
làm thế nào giúp họ trở thành người tốt với mức học Tiểu Học của họ.
[…]
Dựa trên mục đích của giáo dục đã nêu trên, hệ thống giáo dục của
Việt Nam Cộng Hòa trong những năm sau cùng trước biến cố 1975, được
thiết lập trong tinh thần tiếp cận hệ thống giáo dục của các quốc gia
tiền tiến trên thế giới.
Hệ thống này gồm ba cấp bậc: Tiểu học, Trung học, và Đại học.
Tiểu học và Trung Học Đệ Nhất Cấp là cái học Phổ Thông (gồm 9 năm học).
Trung Học Đệ Nhị Cấp bắt đầu chia ngành chuyên môn. Đây là những năm
chuyển tiếp để vào các ngành chuyên môn hơn ở Đại Học, hoặc ra đời làm
việc sinh sống.
(Khoá hội thảo cải tổ chương trình Sư Phạm)
Riêng ở hai bậc Tiểu và Trung học, hệ thống giáo dục Việt Nam là
hệ thống 5-4-3, với 12 năm liên tục, từ Lớp 1 đến Lớp 12, phân bố như
sau:
Tiểu học (chỉ có Phổ Thông):
Lớp Một (Lớp Năm cũ)
Lớp Hai (Lớp Tư cũ)
Lớp Ba (Lớp Ba cũ)
Lớp Bốn (Lớp Nhì cũ)
Lớp Năm (Lớp Nhứt cũ)
Trung học Đệ Nhất Cấp (chỉ có Phổ Thông):
Lớp Sáu (Đệ Thất cũ)
Lớp Bảy (Đệ Lục cũ)
Lớp Tám (Đệ Ngũ cũ)
Lớp Chín (Đệ Tứ cũ)
Trung học Đệ Nhị Cấp (Phổ Thông và Chuyên Nghiệp):
Lớp Mười (Đệ Tam cũ)
Lớp Mười Một (Đệ Nhị cũ)
Lớp Mười Hai (Đệ Nhất cũ)
Bắt đầu Trung học Đệ Nhị Cấp, từ Lớp Mười, học sinh phải chọn Ban chuyên môn, và ngành chuyên môn như sau (từ 1973):
Ngành Phổ Thông:
Ban A (hay Ban Khoa Học Thực Nghiệm)
Ban B (hay Ban Toán)
Ban C (hay Ban Sinh Ngữ)
Ban D (hay Ban Cổ Ngữ)
Ngành chuyên nghiệp Nông Lâm Súc (Trung học Nông Lâm Súc)
Ngành chuyên nghiệp Kỹ Thuật (Trung Học Kỹ Thuật)
Bậc Đại học bao gồm:
Đại Học Cộng Đồng (hai năm)·
Đại Học (chương trình Cử Nhân trở lên)·
[…]
5. ĐIỀU KIỆN NHẬP HỌC:
Vào Lớp Một, bậc Tiểu Học:
Tất cả trẻ em từ 6 tuổi là nhận vào Lớp Một để bắt đầu bậc Tiểu
Học. Tuy không có luật bắt buộc phải đi học, nhưng hầu hết trẻ em đều
được đi học hết bậc Tiểu Học miễn phí ở các trường Tiểu Học công lập.
Học sinh có thể học trường Tiểu Học tư thục nếu phụ huynh muốn.
Vào Lớp Sáu, bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp
Muốn vào học Lớp Sáu, Trung Học Đệ Nhất Cấp, học sinh phải học xong
Tiểu Học và phải qua một kỳ Thi Tuyển Vào Lớp Sáu. Đây là kỳ thi gay go
vì số chổ ở Lớp Sáu Trung Học công lập có giới hạn. Chỉ khoảng 62% học
sinh xong Tiểu Học được tuyển chọn vào Lớp Sáu trường công. Học trường
công thì không phải trả học phí. Học sinh thi rớt vào Lớp Sáu trường
công có thể lên học bậc trung học đệ nhất cấp ở các trường tư thục (có
học phí).
Vào Lớp Mười Trung Học Đệ Nhị Cấp
Học sinh học xong Lớp Chín, có đủ điểm lên lớp, được vào Lớp Mười,
ngành Phổ Thông, không phải qua một kỳ thi nào. Vào trường công thì
không phải đóng học phí. Tuy nhiên, khi vào Lớp Mười học sinh phải lựa
chọn Ban. Việc chọn Ban có tính cách tự nguyện, do tự học sinh muốn chọn
Ban nào cũng được tùy theo sở thích của mình chớ không qua một sự hướng
dẫn, hay chỉ bảo nào của nhà trường. Vào lớp Mười các ngành chuyên môn
như Nông Lâm Súc hay Kỹ Thuật thì học sinh phải qua một kỳ thi tuyển vì
số chổ giới hạn hơn ngành Phổ Thông.
Vào Năm Thứ Nhất Đại Học
Học sinh đậu xong Tú Tài, kể như tốt nghiệp bậc Trung Học, có đủ
điều kiện để vào học Năm Thứ Nhất bậc Đại Học. Tuy nhiên vì có một số
đại học có số chỗ rất giới hạn nên đòi hỏi học sinh phải dự một kỳ thi
tuyển như các đại học Y, Dược, Nha, Kỷ Thuật, Sư Phạm. Sự tuyển chọn
hoàn toàn tựa trên khả năng của thí sinh , không có vấn đề lý lịch gia
đình chen vào. Các đại học khác như Luật, Khoa Học, Văn Khoa không có
thi tuyển, chỉ nhận thẳng những học sinh đã có bằng Tú Tài, không có một
sự phân biệt, kỳ thị nào. Trường công thì không phải đóng học phí dù là
bậc đại học. Chỉ có đóng tiền đi thi cuối năm ở một số trường hay phân
khoa. Có những chương trình có học bổng cho sinh viên như trường sư phạm
chẳng hạn.
[…]
Hết Phần Đầu
Huỳnh Hữu Đức sưu tầm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét