Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2018

Từ Bình Long-Phước Long Đến Tỉnh Bình Phước P2


Danh Lam Thắng Cảnh Vùng Bình Long-Phước Long:
Về thắng cảnh, cách Sài Gòn khoảng 180 cây số, giữa một vùng đồi núi thấp nhô lên một ngọn núi khá cao, đó là ngọn núi Bà Rá cao 733 mét, xung quanh cây cối xanh tươi, rậm rạp, tạo cho quang cảnh núi Bà Rá một vẻ hùng vĩ. Thời Pháp thuộc, chính quyền thực dân đã cho xây nhà tù Bà Rá để lưu đày các tù phạm chống đối nhà nước Pháp. Vùng nầy khí hậu tương đối tốt và ôn hòa hơn các nơi khác tại miền Nam, nên vào năm 1955, chánh quyền Đệ Nhất Cộng Hòa đã có dự tính lập thủ phủ của miền Nam tại đây thay cho Sài Gòn. Đứng trên lưng chừng núi Bà Rá chúng ta có thể nhìn thấy cả một vùng rộng lớn, bao gồm thị trấn Thác Mơ và hồ Thác Mơ. Trong thị trấn Thác Mơ, về phía Tây của vùng núi Bà Rá, có một hang động khá sâu, đó là hang ‘Bà Bảy Tuyết’. Quang cảnh quanh hang tuyệt đẹp, với không khí trong lành tươi mát. Bên trong hang không tối lắm vì có những tia nắng len lỏi qua khe đá tạo nên một khung cảnh có vẻ huyền bí trong hang. Về phía Tây của vùng núi Bà Rá là Hồ Thác Mơ. Hồ Thác Mơ rộng trên 12.000 mẫu tây. Tại đây có trung tâm thủy điện Thác Mơ, với sản lượng điện 151 mégawatts. Để tạo nên sản lượng điện nầy, người ta đã chặn lại sông Bé cả một vùng hàng chục ngàn mẫu quanh hồ Thác Mơ. Đây là nơi có nhiều du khách đến vãng cảnh nhất trong vùng, với những ngôi nhà bị chiến tranh tàn phá vẫn còn đây như chứng tích của một thời đã qua. Chung quanh bờ hồ được bao bọc bởi những núi đồi thấp nhấp nhô rợp bóng cây xanh mát, Giữa lòng hồ mênh mông có khoảng mười hòn đảo nhỏ, với tổng diện tích các đảo lên đến trên 200 mẫu. Nếu đi trên quốc lộ 14, từ vùng Đồng Xoài đi Buôn Mê Thuột, chúng ta sẽ thấy nhiều quang cảnh tuyệt đẹp của vùng núi rừng nầy, từ rừng thấp chuyển qua dốc, đồi, thung lũng, rồi núi non tiếp giáp với Tây Nguyên, với sương mù lúc che khuất, lúc để lộ ra cả một vùng núi non chen lẫn giữa những thung lũng thật hùng vĩ, với những con suối và những phụ lưu từ Tây Nguyên chảy về phía Cao Miên hay hạ Lào để rồi cùng hòa nhập vào dòng Mékong hùng vĩ. Năm 2004, chánh quyền đã xây dựng khu du lịch Bà Rá-Thác Mơ, với khoảng 18 cây số đường quanh theo núi, và thiết kế hệ thống di chuyển lên núi bằng dây cáp treo. Về phía đông bắc của thị trấn Thác Mơ là khu Vườn Quốc Gia ‘Bù Gia Mập’ (khu bảo tồn động thực vật). Tại đây hãy còn rất nhiều loài động vật quí hiếm như cọp và bò rừng, và những loại gỗ quí hiếm như cẩm lai, trắc, gụ, giáng hương, dầu cổ thụ, vân vân.
Chung quanh núi Bà Rá, giữa thị xã Đồng Xoài và thị trấn Thác Mơ, còn có nhiều thắng cảnh khác như Suối Cam, hồ Suối Lam, trảng cỏ Bàu Lạch, Sóc Xiêm... là những nơi chỉ cách Sài Gòn chưa đầy 120 cây số, với đầy đủ phương tiện cho những cuộc đi nghỉ mát cho thị dân Sài Gòn trong những ngày cuối tuần. Hồ Suối Lam cách thị xã Đồng Xoài khoảng 10 cây số về phía Bắc. Đây là một trong những hồ rộng và yên tĩnh nhất trong vùng, nước trong hồ quanh năm trong xanh in bóng những hàng cây cao su thẳng tắp đến tận chân trời. Không khí trong vùng hồ thật trong lành, người ta có thể cảm nhận sự tinh khiết của thiên nhiên với tiếng gió và tiếng chim hót rộn rã. Hiện nay, người ta đang xây dựng một con lộ dài khoảng 6 cây số từ suối Cam qua hồ Suối Lam cho việc đi lại của du khách được dễ dàng hơn.
Bên huyện Tân Phú thuộc tỉnh Đồng Nai, có khu Vườn Cát Tiên, chạy dài lên tỉnh Lâm Đồng về phía Bắc. Về bên phía tỉnh Bình Phước là khu Tây Cát Tiên, giữa hai huyện Đồng Phú và Bù Đăng. Khu Tây Cát Tiên cũng thuộc quần thể khu dự trữ sinh quyển Vườn Quốc Gia Cát Tiên đã được công nhận từ năm 1998. Đây là khu bảo tồn hệ sinh thái rừng nhiệt đới lớn nhất của Việt Nam. Ngoài hệ thực vật đa dạng và phong phú, rừng thuộc khu Tây Cát Tiên còn có nhiều loài động vật quí hiếm như tê giác, bò rừng, ngổng cánh trắng, gà rừng, vân vân.

Động Vật Và Cây Trái Vùng Bình Phước:

Bình Phước là một tỉnh nằm cuối dãy Trường Sơn và giáp với vùng đồng bằng miền Đông, nên địa thế khá cao ráo, có những cảnh quan thiên nhiên nguyên sơ rất đẹp, như núi Bà Rá, Thác Mơ, đồng cỏ Bàu Lạch, khu du lịch Sóc Xiêm, vân vân. Bên cạnh đó, Bình Phước còn có khu rừng nguyên sinh Bù Gia Mập với khoảng 150 loài động vật khác nhau, trong đó có nhiều loài quí hiếm như tê giác và chồn bay...
Cững như các vùng khác ở miền Đông Nam Phần, trên mười ngàn năm nay, vùng này được bồi đắp bởi phù sa đất đỏ của sông Đồng Nai lên vùng nham thạch cổ của một vùng núi lửa đã ngưng hoạt động từ lâu. Hai tỉnh Bình Long và Phước Long thuộc miền núi, đất đai tương đối khá cao so với các vùng khác của đồng bằng miền Nam. Đây là vùng tiếp giáp giữa cao nguyên Nam Trung Phần và đồng bằng Nam Phần. Bình Long-Phước Long là hai tỉnh có nhiều rừng núi nhất miền Nam, nhưng chỉ là những dãy núi thấp với những cánh rừng cao su bạt ngàn. Tuy vậy, thế đất ở đây khá bằng phẳng, nên thời VNCH, chính phủ đã cho thành lập nhiều đồn điền cao su, cà phê, hồ tiêu và đào lộn hột (hột điều). Ngoài con sông lớn nhất chảy qua vùng nầy là sông Đồng Nai, dài 635 cây số, vùng Bình Phước còn được các phụ lưu của sông Đồng Nai chảy qua là các sông La Ngà, sông Bé và sông Sài Gòn để bồi đắp nên vùng châu thổ miền Đông. Sông Bé với phần nguồn từ phía Bắc của tỉnh Phước Long, sau khi chảy ra khỏi Bình Long và Phước Long, sông Bé chảy vào Biên Hòa rồi đổ vào sông Đồng Nai. Phần gần nguồn của sông Sài Gòn là ranh giới giữa hai vùng Bình Long và Tây Ninh. Chính nhờ hai con sông Sài Gòn và sông Bé, nên dù thế đất cao, đất đai tỉnh Bình Phước cũng không đến nỗi cằn cỗi cho lắm. Cũng như các vùng khác ở miền Đông Nam Phần, càng về phía Nam, địa hình đất đai càng trở nên thấp dần với những đồi núi thấp và phần lớn đất đai của vùng nầy được bồi đắp bởi lớp phù sa cổ có màu đỏ vàng và xám. Dọc theo các bờ sông thế đất nầy trũng dần giữa các nhánh sông và tạo thành từng dãy đất hẹp có chiều rộng thay đổi từ vài chục mét đến vài cây số. Đất ở đây có màu bùn đen, đây là loại đất thích hợp cho việc trồng các loại cây như đậu, mè, và cây hạt điều... Riêng đất đai về phía Nam, dọc theo các bờ sông Đồng Nai và La Ngà thuộc vùng phù sa mới, đất cát... rất thích hợp cho việc trồng các loại cây lương thực, rau quả và các cây hoa màu khác. Chính nhờ vậy mà ngày nay có nhiều cư dân vùng Bình Phước chuyển qua nghề làm rẫy chuyên trồng rau quả cung cấp không chỉ cho địa phương mà cho cả vùng Biên Hòa và Sài Gòn nữa. Riêng về hạt điều hay đào lộn hột (cashew) rất nổi tiếng tại vùng Bình Phước. Cây đào lộn hột là một loại cây công nghiệp có thể sống từ 30 đến 40 năm. Chỉ riêng tại xã Phước Tín nằm trong tỉnh Bình Long trước đây, hầu như người ta trồng đào lộn hột trong toàn xã. Hiện tại, trong tỉnh Bình Phước có trên 2.000 mẫu trồng cây ca cao, trong đó hai huyện Bù Đăng và Phước Long đã chiếm đến phân nửa diện tích nầy. Ưu điểm lớn nhất khi trồng cây ca cao là người ta có thể trồng chen lẫn chúng với cây đào lộn hột, vì cây ca cao thích những bóng mát của các tàng cây lớn.

Từ Bình Long-Phước Long Đến Tỉnh Bình Phước Ngày Nay:

Sau năm 1975, chánh quyền mới cho sáp nhập 2 tỉnh Bình Long và Phước Long lại để thành lập tỉnh Bình Phước, mà tỉnh lỵ đặt tại Đồng Xoài. Tuy nhiên thị trấn Thác Mơ là trung tâm của tỉnh lỵ Phước Long cũ, vẫn còn là một trong những trung tâm thương mại và kinh tế quan trọng trong vùng. Tổng diện tích của tỉnh mới Bình Phước là 6.856 cây số vuông, gồm các quận Đồng Phú, Phước Long, Lộc Ninh, Bù Đăng, Chơn Thành và Bù Đốp, và tổng dân số vào khoảng 719.400 người. Về vị trí, tỉnh Bình Phước là một trong những tỉnh của miền Đông Nam Phần tiếp giáp với dãy Trường Sơn(17). Bắc và tây bắc giáp Campuchia, đông giáp tỉnh Daklak và Lâm Đồng, nam giáp các tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, và về phía tây giáp với vùng Dầu Tiếng của tỉnh Tây Ninh. Bình Phước là một tỉnh nằm cuối dãy Trường Sơn và giáp với vùng đồng bằng miền Đông, nên địa thế khá cao ráo, có những cảnh quan thiên nhiên nguyên sơ rất đẹp, như núi Bà Rá, Thác Mơ, đồng cỏ Bàu Lạch, khu du lịch Sóc Xiêm, vân vân. Tháng 2 năm 2003, chánh phủ Việt Nam thành lập các huyện Chơn Thành và Bù Đông. Như vậy, hiện nay tỉnh Bình Phước gồm 7 huyện: Lộc Ninh, Bình Long (An Lộc), Đồng Phú, Bù Đông, Chơn Thành, Phước Long (Thác Mơ), Bù Đăng (Đức Phong), và thị xã Đồng Xoài. Theo thống kê năm 2003, tổng dân số của tỉnh Bình Phước khoảng 815.000 người. Trong thập niên đầu 2000, chánh quyền đã phân chia lại ranh giới giữa những tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai và Đắc Nông, và theo thống kê mới nhất của Tập Bản Đồ Hành Chánh Việt Nam vào năm 2009, tỉnh Bình Phước có tổng diện tích khoảng 6.857,1 cây số vuông và tổng dân số khoảng 784.000 người. Thị xã Đồng Xoài có diện tích khoảng 169,6 cây số vuông, với 61.500 dân, mật độ trung bình khoảng 363 người trên một cây số vuông. Huyện Bình Long có diện tích khoảng 756,1 cây số vuông, với 140.200 dân, mật độ trung bình khoảng 185 người trên một cây số vuông. Huyện Bù Đăng có diện tích khoảng 1.488,3 cây số vuông, với 108.900 dân, mật độ trung bình khoảng 73 người trên một cây số vuông. Huyện Bù Đốp có diện tích khoảng 377,5 cây số vuông, với 51.600 dân, mật độ trung bình khoảng 137 người trên một cây số vuông. Huyện Chơn Thành có diện tích khoảng 414,6 cây số vuông, với 59.900 dân, mật độ trung bình khoảng 144 người trên một cây số vuông. Huyện Đồng Phú có diện tích khoảng 929,1 cây số vuông, với 75.600 dân, mật độ trung bình khoảng 81 người trên một cây số vuông. Huyện Lộc Ninh có diện tích khoảng 863 cây số vuông, với 109.200 dân, mật độ trung bình khoảng 1275 người trên một cây số vuông. Huyện Phước Long có diện tích khoảng 1.858,9 cây số vuông, với 177.100 dân, mật độ trung bình khoảng 95 người trên một cây số vuông.
Về đường bộ, từ Sài Gòn theo quốc lộ 13 đi về hướng Bắc tới Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, nay thuộc tỉnh Bình Dương, Chơn Thành, An Lộc, Lộc Ninh, qua khỏi Hớn Quản đi thêm khoảng 15 cây số về phía Tây Bắc là đến biên giới Việt Miên. Từ ngã tư Chơn Thành, tiếp tục đi theo quốc lộ 13, đi về hướng Bình Long là thị trấn An Lộc, một thời từng là chiến trường đẫm máu giữa Nam và Bắc. Cũng từ ngã tư Chơn Thành, người ta có thể đi theo quốc lộ 14 để tiếp tục lên Đồng Xoài, Đồng Phú, Bù Đăng và Buôn Mê Thuột. Từ An Lộc đi thêm 20 cây số nữa về hướng biên giới là thị trấn Lộc Ninh. Lộc Ninh nổi tiếng với nghề trồng tiêu. Qua khỏi Lộc Ninh chừng vài cây số có tỉnh lộ 748 đi Bù Đốp. Tại đây hãy còn rất nhiều người thuộc bộ tộc cổ Stiêng sinh sống, nhiều người vẫn chưa chịu sống theo định canh mà vẫn còn du canh. Chính vì sự khác biệt với người kinh nên bộ tộc Stiêng lần lần rút sâu vào vùng rừng núi bên kia biên giới Việt Miên. Từ Chơn Thành có tỉnh lộ 751 đi đến Hồ Dầu Tiếng. Riêng tỉnh lộ 741 chạy từ Tân Uyên (Bình Dương) lên Đồng Xoài, Phú Riềng, Thác Mơ, rồi từ Thác Mơ lên tới Đức Lập, Bù Gia Mập, qua tỉnh Đắk Nông. Từ An Lộc có tỉnh lộ 246 đi về hướng Tây Ninh dọc theo biên giới Việt Miên. Ngoài ra, tỉnh Bình Phước còn nhiều đường tỉnh lộ khác nối liền các nơi trong tỉnh, như tỉnh lộ 752 trong thị trấn Bình Long, tỉnh lộ 753 trong thị xã Đồng Xoài, tỉnh lộ 754 từ ngã ba Đồng Tâm đi Tà Thiết, trong quận Đồng Phú, vân vân.
Về đường thủy, nếu so với các tỉnh khác ở miền Nam thì giao thông đường thủy trong tỉnh Bình Phước không đáng kể. Tuy nhiên, giữa ranh giới hai tỉnh Bình Long và Tây Ninh là phần gần nguồn của sông Sài Gòn. Về phía Đông giữa hai tỉnh Bình Long và Phước Long là sông Bé, với phần nguồn từ phía Bắc của tỉnh Phước Long, sau khi chảy ra khỏi Bình Long và Phước Long, sông Bé chảy vào Biên Hòa rồi đổ vào sông Đồng Nai. Bên cạnh đó, vùng Bình Phước còn có rất nhiều sông nhỏ, thác, hồ như hồ Suối Lam, Thác Mơ, thác Dakmai, vân vân. Nhờ vậy mà giao thông đường thủy trong vùng cũng tương đối khá thuận tiện trong việc vận chuyển hàng hóa về Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Chính nhờ hai con sông Sài Gòn và sông Bé, cùng những thác và hồ trong vùng, nên dù thế đất cao, đất đai tỉnh Bình Long cũng không đến nỗi cằn cỗi cho lắm.


Chú Thích:

(1) Sau năm 1975, chánh quyền mới cho sáp nhập hai tỉnh Bình Long và Phước Long lại để thành lập tỉnh Bình Phước.
(2) Vùng Biên Hòa-Đồng Nai ngày nay.
(3) Tức vùng Tân Bình-Sài Gòn-Chợ Lớn ngày nay.
(4) Ngày nay là các vùng Tây Ninh, Long An, Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn, Cần Giuộc, và Mỹ Tho.
(5) Vùng Vĩnh Long, Bến Tre và An Giang ngày nay.
(6) Trước thời Nam Kỳ Lục Tỉnh, Biên Hòa có tên là Trấn Biên.
(7) Nằm trong địa phận dinh Phiên Trấn.
(8) Nằm trong trấn Phiên An.
(9) Một phần của phủ Phước Long cũ.
(10) Thuộc phủ Phước Tuy cũ.
(11) Một phần của phủ Phước Long cũ.
(12) Tỉnh Thủ Dầu Một thời Pháp thuộc.
(13) Nơi gần giáp với tỉnh Bình Long.
(14) Trong khi sông Hồng chỉ chảy trong địa phận Việt Nam 566 cây số và sông Mã 410 cây số.
(15) Nay thuộc tỉnh Bình Dương.
(16) Từ An Lộc, người ta có thể đi theo quốc lộ 14 để tiếp tục lên Đồng Xoài và Buôn Mê Thuột.
(17) Tiếp giáp giữa đồng bằng và cao nguyên.
----------------


Để tiện theo dõi "Đất Phương Nam 1", kính mời Quí Độc Giả mở Link bên dưới:


Thứ Tư, 9 tháng 5, 2018

Nam Khê - Thơ Tùng Thiện Vương

Thơ Tùng Thiện Vương

       南溪                             NAM KHÊ

亂山深處一溪橫,     Loạn sơn thâm xứ nhất khê hoành,
十二年前駐馬情。     Thập nhị niên tiền trú mã tình
流水自知人事異,     Lưu thủy tự tri nhân sự dị,

潺湲不作昔來聲。     Sàn viên bất tác tích lai thinh

Dch nghĩa 

Nơi chốn sâu núi chập chùng, khe nước chảy ngang
Mười hai năm trước đã có tình dừng ngựa nghỉ tại đây 
Dòng nước chảy như biết việc người đời đã đổi khác 

(Nên) tiếng róc rách không giống như năm xưa nữa

Dịch Thơ :
(1)
Sâu thẩm suối xuyên núi điệp trùng
Hai mươi năm trước vó câu dừng.
Việc người thay đổi suối dường biết
Tiếng nước giờ nghe khác lạ lùng !
(2)
Suối xuyên trùng điệp núi rừng,
Hai mươi năm trước ngựa dừng nơi đây.
Việc người thay đổi suối hay,
Nước xưa róc rách ngày nay khác rồi!
                                     Mai Lộc
***

KHE SUỐI PHÍA NAM

(1)
Trùng điệp núi non, khe suối len
Năm nào kỵ sĩ đã dừng chân
Nước như hiểu rõ người thay dạ
Nên tiếng rì rào đã đổi âm.

(2)
Núi non trùng điệp, suối len
Nhớ chàng kỵ sĩ dừng chân năm nào
Lòng người thay đổi ra sao
Nước đà hiểu rõ, rì rào khác xưa.

(3)
Hẻm núi, khe suối len
Xưa, kỵ sĩ dừng chân
Nước biết người đổi dạ
Nên lặng lẽ thay âm
                Phương Hà phỏng dịch
***
CHÚ THÍCH :

 * Khê : Ta nói là Khe, là dòng nước từ trong núi chảy ra, là con sông nhỏ được hình thành bởi các dòng suối, mà ta quen gọi là SƠN KHÊ 山溪.
 * TRÚ : là Trú đóng, là dừng lại để nghỉ ngơi, ăn uống, cắm trại... khác với Đình Mã 停馬 là chỉ dừng chân một chút rồi đi.
  
 * Sàn Viên : từ Tượng Thanh, chỉ tiếng Róc ra róc rách của nước chảy.

 DIỄN NÔM :
                          Khe Suối Nam

                 Ngổn ngang ngàn núi dòng khe cũ,
                 Dừng ngựa mười năm tình ấp ủ.
                 Nước chảy như tình người đổi thay,
                 Róc ra róc rách không như cũ !

Lục Bát :
               Vắt ngang trong suối dòng khe,
               Mười hai năm trước ấp e hàm tình.
               Nước trôi nhân sự điêu linh,
               Chẳng còn róc rách hàm tình như xưa !
                                             Đỗ Chiêu Đức 
***
              Nam Khê

Trùng điệp non cao suối chảy thầm
Nơi đây dừng ngựa quá mười năm
Phải chăng nước biết đời thay đổi
Nên tiếng bây giờ đã đổi âm.
                                   Quên Đi

***

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2018

Sự Tích Con Muỗi


Ngày xưa, có một người nông dân hiền lành tên là Ngọc Tâm, có một người vợ xinh đẹp tên là Nhan Diệp. Khác hẳn với tính tình đơn giản của chồng, quanh năm chăm chú làm ăn, người vợ lười biếng xa hoa, chỉ lo thỏa thê sung sướng.
Trong lúc hai vợ chồng tưởng chung sống với nhau đến răng long đầu bạc, thì Nhan Diệp bỗng lăn ra chết.
Người chồng đau đớn quá, không muốn rời xa xác vợ, bèn bán hết tài sản, mua một chiếc thuyền chở quan tài vợ thả bồng bềnh trên mặt nước.
Một buổi sớm mai thuyền đi đến dưới chân một ngọn núi cỏ cây ngào ngạt, Ngọc Tâm lên bờ thấy đủ các kỳ hoa dị thảo, cây cối nặng trĩu trái thì lấy làm lạ bèn phăng lần lên cao. Lưng chừng núi, Ngọc Tâm gặp một ông lão tướng mạo phương phi, râu tóc bạc phơ, tay chống gậy trúc đang lần bước. Thấy người có vẻ tiên phong đạo cốt, đoán chừng là thần tiên ở núi Thiên Thai xuất hiện, Ngọc Tâm bèn sụp lạy, rồi thiết tha xin cứu tử hoàn sinh cho người vợ thương yêu.
Vị thần thương hại nhìn Ngọc Tâm hồi lâu rồi nói:
– Ngươi còn nặng lòng vương vấn trần ai, chưa thoát được vòng tục lụy… Ta có thể giúp cho ngươi đạt ước vọng song về sau ngươi đừng có lấy làm ân hận!
Ngọc Tâm theo lời vị thần, dở nắp quan tài vợ ra, chích đầu ngón tay mình nhỏ ba giọt máu vào thi thể Nhan Diệp, thì người đàn bà từ từ mở mắt ra, rồi ngồi lên như sau một giấc ngủ dài.
Trước khi từ giã, vị thần bảo người đàn bà vừa sống lại:
– Đừng quên bổn phận của người vợ… Hãy luôn luôn nghĩ đến lòng thương yêu chung thủy của chồng… Chúc cho hai vợ chồng được sung sướng.
Trên đường về quê, người chồng hối hả giục thuyền đi mau. Một tối thuyền ghé bến, Ngọc Tâm lên bờ mua sắm thức ăn. Trong lúc đó, có một chiếc thuyền buôn lớn đậu sát bên cạnh, chủ nhân là tay lái buôn giàu có chú ý đến nhan sắc lộng lẫy của Nhan Diệp. Hắn gợi chuyện, mời Nhan Diệp qua thuyền mình dùng trà rồi ra lệnh cho bạn thuyền dong hết buồm chạy.
Ngọc Tâm quay về thấy mất vợ, bỏ cả ăn ngủ, ngày đêm đi tìm kiếm, một tháng sau mới gặp. Nhưng người đàn bà đã quen với lối sống xa hoa bên cạnh tay lái buôn giàu có, quên cả tình cũ nghĩa xưa. Thấy rõ bộ mặt thật của vợ, Ngọc Tâm như tỉnh cơn mê, bảo Nhan Diệp:
– Mình được tự do bỏ tôi song tôi không muốn mình còn lưu giữ kỷ niệm gì của tôi nữa, vậy hãy trả lại ba giọt máu của tôi đã nhỏ ra để cứu mình sống lại.
Nhan Diệp thấy được ra đi dứt khoát dễ dàng như thế, vội vàng lấy dao chích đầu ngón tay, nhưng máu vừa bắt đầu nhỏ giọt thì nàng ngã lăn ra chết.
Người đàn bà nông nổi, phụ bạc chết vẫn còn luyến tiếc cõi đời nên hóa kiếp thành một vật nhỏ, ngày đêm đuổi theo Ngọc Tâm, tìm cách ăn cắp ba giọt máu để trở lại làm người. Con vật này luôn luôn kêu than với chồng cũ, như van lơn, như oán hận, như tiếc thương, ngày đêm o o không ngừng. Về sau giống này sinh sôi nẩy nở rất nhiều, người ta đặt tên nó là con muỗi. Vì ghét kẻ phụ bạc, nên mỗi lần muỗi lại gần, người ta không tiếc tay đập cho nó chết.

(Theo truyencotich.vn)


Thứ Hai, 7 tháng 5, 2018

Dân Tôi



           Dân Tôi...


Cali - Đà Nẵng cách xa rồi
Hoàn cảnh đẩy đưa sống nửa đời
Làng cũ ruộng nương nay lạ hoắc
Quê xưa phố chợ cũng chơi vơi
Định cư hải ngoại đồng bào khỏe
Lập nghiệp xứ người thịnh vượng thôi
Đốt nén nhang thơm chùa lễ Phật
Dân tôi gốc Việt trải nhiều nơi...
                         Mai Xuân Thanh
                 Ngày 13 tháng 03 năm 2018

Họa Thơ:

           Bạn Thơ

Thân hữu xích xê thất thập rồi
Bao năm đắng ngọt vẫn yêu đời
Sức già dần cạn hồn luôn sáng
Ý tứ tràn đầy trí chẳng vơi
Xướng họa câu vần vui cứ hưởng
Giao duyên thi phú hứng quên thôi
Xa gần cách trở nào đâu kể
Giờ Bạn Thơ đà ở khắp nơi.
                            Quên Đi
***

Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2018

Vui Cười 85


Chuyện Vui Nhà Giáo :
Cô giáo hỏi: Cái gì treo trên tường mà hình vuông? 
H/s: Thưa cô cái đồng hồ. 
Cô giáo: 
-Sai, bức tranh, nhưng cô thích cách suy nghĩ của em. 
Cô giáo: 
-Thế cái gì trong nhà mà có 4 chân? 
H/s: thưa cô ,cái bàn. 
Cô giáo : 
-Sai, ý cô là cái ghế, nhưng cô thích cách suy nghĩ của em? 
H/s :Thưa cô em có một câu hỏi : 
- cái gì hình trụ dài, đầu đỏ, để trong quần của người đàn ông, thỉnh thoảng họ mang ra dùng?" 
Bốp, bốp, bốp..cô giáo tát h/s 3 cái.... Cô cấm em không được hỗn... Dù rất đau h/s vẫn tươi cười : -thưa cô, đó là que diêm..nhưng em thích cách suy nghĩ của cô.

--------------

Giờ học đầu tiên môn hình học lớp 7. Cô giáo vẽ lên bảng 1 cái vòng tròn và đường kính.
- Các em hãy nhìn đây là vòng tròn và đường kính của nó.
Dưới góc lớp Hùng lên tiếng:
- Còn theo em, em nghĩ đó là cái mông, thưa cô !
Cô giáo tức quá, chạy đi tìm thầy hiệu trưởng
- Thưa thầy hiệu trưởng, Hùng là 1 học trò hư và không hiểu gì về hình học ........
Hiệu trưởng vội xuống ngay lớp
- Hỗn láo, hỗn láo quá!, Thế ai đã vẽ cái mông lên bảng thế này đây 
-----------------
Trong lớp học giờ đạo đức, thầy giáo đang giảng về công ơn của thầy cô. 
Thầy giáo hỏi cả lớp: - Các em hãy cho thầy biết một câu ca dao về người thầy. 
Lớp im lặng. Thầy giáo mớm ý: 
- Câu này có 2 chữ \"mày\" và \"nên\" 
Lớp im lặng tập 2. Thầy giáo lại mớm ý 
- Câu này có cả 2 chữ \"không\" và \"đố\" 
Lớp tiếp tục im lặng. Thầy giáo điên tiết: 
- Câu này có 6 chữ, có cả 2 chữ \"thầy\" và \"làm\". 
Ðây là câu gì? Cuối lớp có 1 cánh tay rụt rè giơ lên. - Em cho biết đó là câu gì? 
- Thưa thầy đó là câu-"Làm thầy mày không nên đố". 

------------

Ai cũng yêu động vật
Cô giáo hỏi học sinh : – Nhà em có ai yêu động vật không?
-Thưa cô có. Cả nhà em ai cũng yêu đông vật.
- Vậy à, em kể cô nghe xem!
- Mẹ em thì yêu chó, em thì yêu mèo.
- Vậy còn bố em thì sao?
- Mẹ em bảo rằng bố em yêu con hồ li tinh ở trên đầu phố cô ạ! 
------------------
Thanh tra ngành giáo dục dự giờ tiếng anh của một cô giáo dạy lớp 9, thầy thanh tra ngồi bàn đầu cùng với Tí. Hôm nay biết có Thanh tra dự giờ nên cô giáo mặc một chiếc váy rất đẹp và rất model nhưng hơi ngắn.
Cô giáo viết một câu tiếng Anh và hỏi cả lớp"em nào dịch nghĩa câu này cho cả lớp xem nào!", vừa hỏi cô vừa cô cúi xuống nhặt viên phấn đánh rơi.
Cả lớp im phăng phắc, bỗng Tí đưa tay thưa cô em biết.
Cô: Tí rất giỏi nào, câu trên có nghĩa là gì?
Tí: Thưa cô nghĩa là - giá như cái váy nó ngắn thêm một chút.
Cô đỏ mặt hét: Mời em ra ngoài, ăn nói thiếu nghiêm túc trong giờ học.
Tí vừa đi vừa nhìn thầy thanh tra và trách móc: Đã không biết thì thôi, bày đặt nhắc để em bị cô đuổi....
-----------------
Giờ sinh vật Cô giáo giảng bài, cuối lớp có 2 nhóc quậy đang đánh ca rô.
Cô: Tèo và Tí tại sao không chịu nghe giảng? Tèo hãy trả lời cho cả lớp - vì sao nuôi con bằng sữa mẹ tốt hơn sữa bò?
Tèo vẻ mặt rất hớn hở tỏ ra rất thuộc bài nhanh nhảu trả lời ngay: Thưa Cô vì sữa mẹ có các ưu điểm sau
1. Sữa mẹ khi uống không cần pha.
2. Khi đi chơi xa không cần bình thuỷ nước sôi, ly tách, muỗng chi cho lỉnh kỉnh.
3. Không cần đậy đằng gì mà kiến gián cũng không bao giờ vô được. Và cuối cùng là cái bình sữa lại rất đẹp ạ!
Cô tức quá nhưng nén giận hỏi thêm: Dzậy nó không nhược điểm nào sao????
Tèo: Thưa cô có ạ; thỉnh thoảng có mùi thuốc lá và rượu bia ạ!

**************
( Nguyễn Thế Bình Sưu tầm)


Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2018

Từ Bình Long-Phước Long Đến Tỉnh Bình Phước Phần 1


Vùng Đất Mang Tên Bình Long-Phước Long:
 
Vùng đất nằm về cực Bắc của Nam Kỳ là vùng Bình Long-Phước Long. Đây là triền dốc cuối cùng của dãy Trường Sơn. Vùng đất nầy vẫn còn mang địa hình của một vùng cao nguyên, với đồi núi ở phía Bắc và Đông Bắc, nhưng thấp dần về phía Tây và Tây Nam. Cao độ trung bình của cao nguyên nầy chỉ vào khoảng từ 50 đến 150 mét. Kỳ thật 2 vùng Bình Long và Phước Long có thể được xếp chung vào một vùng địa lý và khí hậu, vì toàn thể đất nầy nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gần vùng xích đạo gió mùa, với 2 mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4. Lưu lượng nước mưa trung bình là 2.110 mili mét, và nhiệt độ trung bình từ 25 đến 30 độ C. Từ bao đời nay, vùng này luôn là yếu điểm của không riêng miền Nam, mà còn cả vùng Tây Nguyên của miền Nam Trung Phần nữa. Đa số đất đai của vùng nầy là đất đỏ. Đây là một vùng đồi núi chạy dài từ biên giới Việt Miên đến biển Đông, từ Tây Ninh, Bình Long, Phước Long(1), qua vùng Bình Dương, Đồng Nai cho đến Bà Rịa và Vũng Tàu. Vùng này có các con sông lớn như Sài Gòn, Đồng Nai, và sông Bé, chảy qua miền đất đỏ mang nét đặc sắc riêng biệt là sự pha trộn chuyển tiếp từ miền núi đồi đất đỏ của cao nguyên Trung phần đến những cánh đồng bạt ngàn của miền Tây. Miền Đông với những rừng cao su bạt ngàn, những núi đồi chạy dài với những dòng sông đỏ ngầu đất phù sa. Đây còn là một vùng đất đầy sức sống của dân tộc Việt Nam trong những ngày đầu Nam tiến. Bắt đầu từ Đồng Nai, mảnh đất có chiều dài lịch sử mới hơn 300 năm nhưng mang đầy vết chân kiêu hùng của những người đi mở nước.
Vào cuối thế kỷ thứ XVII, khi các di thần nhà Minh chạy sang nước ta xin tỵ nạn, chúa Nguyễn đã cho phép họ vào Nam khai hoang lập ấp. Năm 1679, chúa Nguyễn biên thư cho quốc vương Cao Miên, yêu cầu cung cấp đất đai một cách dễ dãi cho các tướng Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình, Dương Ngạn Địch và Hoàng Tiến... để họ cùng thủ hạ có thể khẩn hoang lập ấp tại vùng nầy. Sau đó, tướng Trần Thượng Xuyên đã nhanh chóng biến vùng Nông Nại Đông Phố thành một khu phố thị sầm uất. Năm 1698, chúa Nguyễn lại sai quan Chưởng Cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Nông Nại. Nguyễn Hữu Cảnh lấy xứ Nông Nại, đặt huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên(2), lấy xứ Prei Nokor(3) đặt huyện Tân Bình, lập dinh Phiên Trấn(4). Năm 1776, người Minh Hương tại vùng Nông Nại vì nhớ ơn các chúa Nguyễn nên không chịu theo quân Tây Sơn, mà ngược lại còn giúp quân của chúa Nguyễn giết chết một vị phò mã của vua Thái Đức Nguyễn Nhạc. Chính vì vậy mà Nguyễn Nhạc đã ra lệnh cho quân Tây Sơn tàn sát tất cả những người Minh Hương ở Đông Phố. Năm 1778, sau khi Nguyễn Ánh chiếm lại thành Gia Định, ông bèn chia miền Nam ra làm 3 dinh: dinh Trấn Biên(2), dinh Phiên Trấn(4), và dinh Long Hồ(5). Lúc đó dinh Biên Trấn chỉ có 1 huyện Phước Long, gồm 4 tổng là Tân Chánh, Bình An, Long Thành, và Phước An. Đến khi Nguyễn Ánh lên ngôi, nhà vua chia miền Nam ra làm 5 trấn: Biên Trấn, Phiên An, Định Trấn, Vĩnh Trấn, và Hà Tiên.
Vùng Bình Long-Phước Long, trước đây trực thuộc trấn Biên Hòa, là vùng địa đầu của Nam Kỳ Lục Tỉnh(6). Theo Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, Trấn Biên, nhất là vùng Bình Long-Phước Long, dựa lưng vào núi, mặt ngó ra sông. Buổi đầu các chúa Nguyễn đặt Dinh Trấn Biên, gồm 1 huyện, 4 tổng, lỵ sở đặt tại thôn Phước Lư, thuộc huyện Phước Long. Năm 1808, vua Gia Long cho đổi làm trấn Biên Hòa, nâng huyện lên làm phủ, nâng tổng lên làm huyện. Năm 1816, đời Gia Long thứ 15, lỵ sở được dời về thôn Tân Lân thuộc huyện Phước Chánh. Trước đây vùng này mang tên Cù Lao Phố, là một phố cảng phồn thịnh nhất của Việt Nam vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, với những phố sá, mái ngói, tường vôi, đường sá lót gạch đỏ... Sau cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh thì cù lao Phố bị tàn phá. Năm Gia Long thứ 7, 1808, đổi lại là trấn Biên Hòa, nâng huyện lên làm phủ, nâng tổng lên làm huyện. Phủ Phước Long gồm 4 huyện.
Huyện Phước Chánh, trước đây là tổng Tân Chánh, được đổi làm huyện, trước đây trực thuộc Dinh Phiên Trấn, đến khi Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào lập bản đồ thì cho nhập vào dinh Trấn Biên. Huyện Phước Chánh gồm 2 tổng Phước Vinh và Chánh Mỹ, với 85 xã, phía đông giáp bến đò Thị Nghĩa thuộc thôn Bình Dương(7). Huyện Bình An, nằm về phía Nam huyện Phước Chánh, gồm 2 tổng Bình Chánh và An Thủy, với 119 xã, phía đông giáp huyện Long Thành, từ sông Thị Lộ chạy đến Giồng Ông Tố, tây giáp sông Thủy Vọt, nam giáp sông Sài Gòn, thuộc trấn Phiên An, bắc giáp núi Châu Thới, thuộc huyện Phước Chánh. Huyện Long Thành, gồm 2 tổng Long Vĩnh và Thành Tuy, với 63 xã, phía đông giáp tổng An Phú, thuộc huyện Phước An, phía tây giáp núi Vải Lượng thuộc huyện Bình An, phía nam giáp sông Nhà Bè, bắc giáp xứ Ao Cá thuộc huyện Phước Chánh. Huyện Phước An, gồm 2 tổng An Phú và Phước Hưng, với 43 xã, đông giáp biển Đông, tây giáp núi Thị Vải, nam giáp sông Bình Phước(8) và dọc theo bờ bắc của sông Cần Giờ, bắc giáp đường cái quan tổng Phước Hưng. Sau năm Minh Mạng thứ 13, nhà vua bãi bỏ Gia Định Thành và chia Nam Kỳ ra làm 6 tỉnh, từ đó về sau mới có tên Nam Kỳ Lục Tỉnh.
Đến thời Pháp thuộc, sau khi xâm chiếm toàn bộ Nam Kỳ, chúng chia vùng này ra làm 4 vùng: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, và Bassac. Vùng Bình Long-Phước Long trực thuộc vùng cai quản Sài Gòn. Sau đó người Pháp lại chia miền Nam ra làm 20 tỉnh để dễ bề kiểm soát. Pháp chia Biên Hòa ra làm ba (03) tỉnh gồm các tỉnh Biên Hòa(9), Bà Rịa(10), và Thủ Dầu Một(11). 
Vào khoảng những năm 1956-1957, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, chánh quyền lập thêm các tỉnh Bình Long, Phước Long, Phước Thành, Long Khánh, và Bình Dương(12). Sau năm 1975, chánh quyền mới sáp nhập hai tỉnh Bình Long-Phước Long lại để thành lập tỉnh Sông Bé, sau lại đổi ra làm tỉnh Bình Phước.

Phước Long

Phước Long và Bình Long là 2 tỉnh xa nhất nằm về phía bắc Nam Phần Việt Nam(1). Thời các Chúa Nguyễn thì vùng này thuộc tỉnh Gia Định, nhưng đến đời Gia Long thứ 7 thì nâng lên thành phủ và cho trực thuộc vào Biên Hòa. Đến năm Minh Mạng thứ 18, nhà vua đem hai huyện Phước An và Long Thành sáp nhập vào Phước Tuy, nhưng lại đặt thêm 2 huyện Nghĩa An và Phước Bình cho phủ Phước Long.
Sau khi xâm chiếm Nam Kỳ, Pháp chia Biên Hòa ra làm ba tỉnh gồm Biên Hòa, Bà Rịa và Thủ Dầu Một. Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa, vì nhu cầu an ninh lãnh thổ nên năm 1956, Tổng Thống Ngô Đình Diệm lấy đất của huyện Bà Rá cũ để lập thành tỉnh Phước Long. Huyện Bà Rá cũ nguyên là đất của 4 huyện: Phước Chính, Bình An, Long Thành và Phước An. Về vị trí, tỉnh Phước Long thời Việt Nam Cộng Hòa, phía bắc giáp Cao Miên, phía nam giáp tỉnh Long Khánh và Bình Dương, phía tây giáp Bình Long và đông giáp 2 tỉnh Quảng Đức và Lâm Đồng. Về giao thông đường bộ, từ Chơn Thành theo quốc lộ 14 (khởi điểm quốc lộ 14 bắt đầu từ Chơn Thành) đi đến Ngã Tư Đồng Xoài. Tại đây có 3 ngã, theo đường 14 về hướng Đông Bắc khoảng 55 cây số là tới Bù Đăng, đi nữa là đến Buôn Mê Thuộc, theo đường 741 về hướng Bắc đi đến tỉnh lỵ Phước Long cũ, đi nữa về phía biên giới Việt Miên là Bù Gia Mập, theo đường 741 về hướng Nam đi đến chợ Đồng Phú, một trong những trung tâm thương mại lớn nhất của thị xã Đồng Xoài. Từ Bù Đăng có tỉnh lộ 750 cắt tỉnh lộ 741 tại Thác Mơ. Từ Phước Bình (khu Núi Bà Rá) có tỉnh lộ 749 đi Bù Đốp. Về thủy lộ, về phía Tây tỉnh Phước Long(13) có sông Bé, không phải là thủy lộ giao thông quan trọng của tỉnh, tuy nhiên nước của sông Bé cũng như từ vùng hồ Thác Mơ cũng đủ cung cấp cho các đồn điền trong tỉnh. Về giao thông đường thủy, vùng Phước Long có sông Đồng Nai chảy trong địa phận. Đồng Nai là con sông có chiều dài dài nhất chảy trong lãnh thổ Việt Nam, với chiều dài trong địa phận Việt Nam khoảng 635 cây số(14). Sông Đồng Nai có nhiều phụ lưu, như sông La Ngà, sông Bé và sông Sài Gòn. Sông Bé là nhánh sông bên hữu ngạn sông Đồng Nai, phát nguyên từ cao nguyên Mnong, thuộc tỉnh Dak Nông, dài trên 360 cây số, phần lớn chảy ngang qua vùng Phước Long, rồi đổ vào sông Đồng Nai ở phía dưới thác Trị An. Về phía Bắc núi Bà Rá có công trình thủy điện Thác Mơ với công suất trên 150 ngàn kilowatts. Hiện tại, đường dây cao thế 500 kilovolts Bắc-Nam chạy ngang qua Thác Mơ.
Về dân số, trước năm 1975, tỉnh Phước Long có khoảng 350.000 dân, khoảng trên 80% là người Việt, còn dưới 20% là các dân tộc thiểu số mà đa phần là người cổ gốc M’nông, Mạ, và Stieng, ngoài ra còn có một ít người Hoa, và người Khmer. Người M’nông tại đây sống rải rác từ cao nguyên Daklak chạy dài qua vùng Phước Long. Họ có mối liên hệ với người M’nông ở các vùng Buông Đông và Đam Rông, họ thờ ‘Giàng’ (Trời), không ăn Tết theo tập tục của người Việt, mà thường thì vào khoảng tháng 7 hoặc tháng 8, họ tổ chức mừng mùa là rất lớn.

Bình Long
Tưởng cũng nên nhắc lại một chút về lịch sử thành lập tỉnh Bình Long dưới thời đệ nhất Cộng hòa. Vì nhu cầu trị an, vào năm 1956 chánh quyền VNCH cho tách 3 quận của 2 tỉnh Thủ Dầu Một và Tây Ninh để thành lập tỉnh Bình Long: Chơn Thành của Thủ Dầu Một, cũng như An Lộc và vùng Lộc Ninh Hớn Quản của tỉnh Tây Ninh, tỉnh lỵ được đặt tại An Lộc. Lúc đó về vị trí của tỉnh Bình Long, phía Bắc giáp Cao Miên, phía Đông giáp Phước Long, Tây Bắc giáp Cao Miên, Tây Nam giáp tỉnh Tây Ninh, và phía Nam giáp tỉnh Bình Dương. Về đường bộ, từ Sài Gòn theo quốc lộ 13 đi về hướng Bắc tới Lái Thiêu, Thủ Dầu Một(15), Chơn Thành, An Lộc, Lộc Ninh, qua khỏi Hớn Quản đi thêm khoảng 15 cây số về phía Tây Bắc là đến biên giới Việt Miên. Theo đường 14(16) qua ngã tư Chơn Thành đi về hướng Bình Long là thị trấn An Lộc, một thời từng là chiến trường đẫm máu giữa Nam và Bắc. Từ An Lộc đi thêm 20 cây số nữa về hướng biên giới là thị trấn Lộc Ninh. Lộc Ninh nổi tiếng với nghề trồng tiêu. Qua khỏi Lộc Ninh chừng vài cây số có tỉnh lộ 748 đi Bù Đốp. Tại đây hãy còn rất nhiều người thuộc bộ tộc cổ Stiêng sinh sống, nhiều người vẫn chưa chịu sống theo định canh mà vẫn còn du canh. Chính vì sự khác biệt với người kinh nên bộ tộc Stiêng lần lần rút sâu vào vùng rừng núi bên kia biên giới Việt Miên. Ngoài ra, từ Chơn Thành có tỉnh lộ 751 đi đến Hồ Dầu Tiếng, từ An Lộc có tỉnh lộ 246 đi về hướng Tây Ninh dọc theo biên giới Việt Miên. Về đường thủy, giữa ranh giới hai tỉnh Bình Long và Tây Ninh là phần gần nguồn của sông Sài Gòn. Về phía Đông giữa hai tỉnh Bình Long và Phước Long là sông Bé, với phần nguồn từ phía Bắc của tỉnh Phước Long, sau khi chảy ra khỏi Bình Long và Phước Long, sông Bé chảy vào Biên Hòa rồi đổ vào sông Đồng Nai. Chính nhờ hai con sông Sài Gòn và sông Bé, nên dù thế đất cao, đất đai tỉnh Bình Long cũng không đến nỗi cằn cỗi cho lắm. Về dân số, cũng như tỉnh Phước Long, tỉnh Bình Long vào thời VNCH có khoảng 350.000 dân, trên 80% là người Việt, còn lại là các dân tộc khác, trong đó người Stieng chiếm đa số. Họ sống gần vùng biên giới Việt Miên. Về thắng cảnh, tỉnh Bình Long không có thắng cảnh, tuy nhiên, trên quốc lộ 13, vừa qua khỏi An Lộc chừng 5 cây số, có hồ Sóc Xiêm nằm dọc theo bờ rừng cao su, đa số dân cư ở đây là người Stiêng.

Hai tỉnh Bình Long và Phước Long thuộc miền núi, đất đai tương đối khá cao so với các vùng khác của đồng bằng miền Nam. Đây là vùng tiếp giáp giữa cao nguyên Nam Trung Phần và đồng bằng Nam Phần. Đây là hai tỉnh có nhiều rừng núi nhất miền Nam, trong tỉnh Phước Long có ngọn núi Bà Rá cao 733 mét, trong khi quanh vùng Lộc Ninh là dãy núi thấp với những cánh rừng cao su bạt ngàn, tuy thế đất cao nhưng khá bằng phẳng, nên thời VNCH, chính phủ đã cho thành lập nhiều đồn điền cao su, cà phê, hồ tiêu và đào lộn hột (hột điều). Cũng như các vùng khác của miền Nam, vùng Bình Long-Phước Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 2 mùa nắng-mưa rõ rệt. Con sông lớn nhất chảy qua vùng nầy là sông Đồng Nai, dầu không lớn như sông Cửu Long, nhưng sông Đồng Nai cũng có một lưu lượng khá lớn: 485 mét khôi trong một giây. Chính phù sa của dòng sông nầy đã phối hợp với phù sa của các phụ lưu của nó là các sông La Ngà, sông Bé và sông Sài Gòn để bồi đắp nên vùng châu thổ miền Đông. Riêng sông Bé có chiều dài trên 360 cây số, mà phần lớn chảy trong vùng Bình Long-Phước Long, có lưu lượng trung bình là 264 mét khối một giây, đổ vào sông Đồng Nai ở phía dưới thác Trị An. Hiện tại vùng Bình Long-Phước Long đã xây xong nhà máy thủy điện Thác Mơ trong huyện Phước Long, về phía Bắc núi Bà Rá, có công suất 150.000 kilowatts. Chính nhà máy thủy điện Thác Mơ đã nối liền vùng Bình Long-Phước Long với đường dây điện cao thế Nam-Bắc. Ngoài ra, vùng Bình Long-Phước Long đang xây dựng thêm các nhà máy thủy điện nhỏ khác như Cần Đơn (72 ngàn kw) và Sóc Phú Miên (51 ngàn kw).

---------------

Để tiện theo dõi "Đất Phương Nam 1", kính mời Quí Độc Giả mở Link bên dưới:
https://huynhhuuduc.blogspot.com/p/blog-page_53.html
***

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2018

Văn Thiền - Tùng Thiện Vương

Thơ Tùng Thiện Vương
***
   聞蟬                      Văn Thiền
送君曾此地,  Tống quân tằng thử địa,  
一別欻經年。  Nhất biệt hốt kinh niên.  
愁殺長亭柳,  Sầu sát trường đình liễu,
秋風起暮蟬。  Thu phong khởi mộ thiền.  

Dịch Thơ

         Nghe Tiếng Ve
  (1)
Tiễn chàng từng ở nơi đây,
Biệt ly một thoáng đã đầy một năm
Trường đình liễu rũ buồn căm,
Thu phong vang dậy tiếng ngân ve chiều.
                    Mailoc
(2)
Từng tiễn chàng nơi đây,
Ly biệt một năm đầy
Trường đình buồn liễu rũ,
Thu phong dậy ve sầu.
             ML
***
       NGHE TIẾNG VE

(1)
Tiễn chàng năm ấy tại nơi đây
Thoắt đã tròn năm nỗi nhớ đầy
Rặng liễu âm thầm chau nét mặt
Tiếng ve theo gió thoảng ngân dài.

(2)
Tiễn chàng chính tại nơi này
Thoắt đà trọn một năm đầy xa nhau
Âm thầm rặng liễu mày chau
Gió thu vẳng tiếng ve sầu xót xa.
                     Phương Hà phỏng dịch
***

CHÚ THÍCH :
 * Văn Thiền : Nghe tiếng Ve kêu.
 * Tằng : Từng, đã từng.
 * Sầu Sát : là Buồn thúi ruột, buồn muốn chết.
 * Mộ Thiền : Tiếng ve kêu trong buổi chiều tà.

 DIỄN NÔM :
                     Nghe Tiếng Ve Kêu

                   Nơi nầy từng đưa bạn,
                   Bỗng chốc đã tròn năm.
                   Buồn sao bờ dương liễu,
                   Ve sầu gió thu căm !
 
Lục Bát :
                     Tiễn người đi ở nơi đây,
            Biệt ly thoáng chốc đã đầy một năm.
                   Gió thu nổi lạnh căm căm,
        Trường đình vẳng tiếng ve ngâm chiều tà !

                                                            Đỗ Chiêu Đức
***
                Nghe Tiếng Ve

           Nơi này hai kẻ xa rời
Thế rồi cũng trọn năm trời chia tay
        Bên đình liễu úa xót thay
Chiều thu ảm đạm gió lay ve buồn.
                                 Quên Đi
***

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2018

Nợ Như Chúa Chổm


Vào thời nhà Lê, có một ông quan lớn trong triều tên là Mạc Đăng Dung có chí muốn cướp ngôi vua. Nhà vua biết được tin đó nhưng thế lực của Mạc rất lớn: ông ta cầm binh quyền, bè đảng lại đông nên không thể làm gì được. Cuối cùng nhà vua cất lẻn trốn đi nhưng chẳng được bao lâu đã bị Mạc Đăng Dung bắt đem về giam lại. Hồi ấy ở trại giam có một cô hàng rượu vẫn thường gánh rượu đến bán cho lính canh ngục. Một hôm, cô hàng đưa rượu vào bán, thấy có một phạm nhân mới mặt mũi khôi ngô bị giam riêng ra một nơi. Khi biết người đó làm vua, cô hàng có ý muốn làm quen. Mỗi lần bán rượu cho ngục tốt nàng đều rót rượu cho vua uống. Dần già giữa hai người một mối tình nhóm lên. Một hôm cô hàng cất một mẻ rượu rất ngon lại có pha thuốc mê đem đến chuốc cho quân canh. Chờ cho họ nằm gục xuống, nàng bèn vào tình tự với vua. Từ đó cô hàng rượu có thai. Nhà Vua biết mình không thoát khỏi bàn tay tàn bạo của Mạc, bèn giao ấn ngọc lại cho nàng và nói:
-Nàng hãy giữ vật này làm tin, nếu sau này đẻ con trai, sẽ có ngày nó phục thù cho cha.
Không bao lâu, nhà vua quả bị họ Mạc sai người vào ngục giết chết. Tất cả hoàng hậu, thái tử, công chúa, phi tần của vua đều chịu chung số phận. Xong việc đó, Mạc chiếm lấy ngôi Lê làm vua nước Đại Việt. Cô hàng rượu được tin không còn hồn vía nào nữa. Nàng trốn đi nơi khác làm thuê làm mướn, sống một cuộc đời lẩn lút. Đủ ngày đủ tháng, nàng sinh được một người con trai đặt tên là Chổm. Lớn lên, Chổm được vào chùa ở với sư cụ Thạch Toàn học kinh kệ. Hắn rất sáng dạ nhưng phải cái nghịch ngợm thì không ai bằng. Một hôm đi chơi về đói, Chổm thấy trước tượng Mụ Thiện có bày một mâm bồng đầy chuối và quýt. Anh chàng rón rén đến bệ, bịt mắt Mụ Thiện lại và bẻ chuối ăn. Bất đồ sư cụ ở đâu đi vào trông thấy liền nọc cổ Chổm ra đánh.
Chổm tức lắm, chờ lúc sư đi vắng lấy giấy viết mấy chữ “Mười tay, mười mắt không giúp được gì cho ta. Thật là vô ích. Phải đày đi phương xa”. Viết xong dán vào ngực Mụ Thiện. Đêm hôm ấy sư cụ tự nhiên mộng thấy Mụ Thiện bảo mình rằng: “Nhà vua đói nên mới ăn, sao lại đánh ngài để ngài đuổi ta đi? Phải mau mau tìm cách xin lỗi ngài, để ngài tha cho ta”. Tỉnh dậy, sư cụ rất phân vân, mới gọi chú tiểu Chổm vào kể chuyện cho biết và bảo bóc giấy đi. Sư cụ hỏi anh chàng: “Cha mày đâu?”. Chổm đáp: “Tôi lớn lên chưa từng nghe nói có cha”. Sau đó Chổm trở về hỏi mẹ: “Cha con đâu?”. Mẹ sợ không dám nói sự thật cho con biết, đáp: “Cha con là họ Lê, bị hổ ăn thịt chết rồi”. Nghe nói Chổm rất buồn. Từ hôm đó anh chàng lập tâm giết hổ để báo thù cho cha.
Một hôm, Chổm vào rừng chơi, thấy một con hổ đang ngủ dưới gốc cây, liền rón rén cầm một hòn đá lớn ném mạnh vào đầu hổ, hổ vỡ óc chết tươi. Đang nắm đuôi hổ lôi về thì Chổm bỗng gặp một con hổ khác xông ra. Chổm sợ quá, quẳng xác hổ cắm đầu chạy. Nào ngờ khi hổ sắp đuổi kịp thì tự nhiên có một ông già tay cầm côn sắt ở trong rừng hiện ra đánh chết con hổ dữ. Chổm thoát chết, sụp lạy ông già. ông già trao cho chàng cái côn, bảo: “Con hãy học một ít miếng võ để mà hộ thân”. Chổm sung sướng vâng lời. Dạy xong, ông già cho Chổm cái côn rồi đi mất. Từ đó, Chổm dùng côn làm vũ khí tùy thân. Một hôm đi qua một cái miếu, nghe đồn có nhiều yêu quái hại người, Chổm bèn cầm côn trèo tường nhảy vào tìm yêu quái. Một lát, ở trong hang sâu bò ra một con rắn lớn mắt sáng như sao, miệng phun khí độc toan vồ lấy Chổm. Chổm giơ thần côn vụt lấy vụt để vào đầu rắn. Rắn chết, từ đó trong xóm được yên ổn. Hai mẹ con Chổm về sau thấy yên lại trở về chốn cũ. Hàng ngày anh chàng đi kiếm củi hoặc làm thuê làm mướn nuôi mẹ. Những lúc bụng đói, Chổm thường vào ăn cơm hay mua thức ăn ở các quán cơm tại cửa ô. Hàng nào được Chổm vào ăn là hôm đó bán đắt như tôm tươi, còn các hàng khác chỉ ngồi xua ruồi. Người ta cho là Chổm nhẹ vía nên hàng nào cũng muốn mời anh ta vào ăn, dù bán chịu cũng được. Chổm được thể ngày nào cũng đánh chén hoang toàng và tiêu pha bạt mạng. Toàn là ăn chịu mua chịu. Ai hỏi nợ, hắn đều bảo:
-Đến ngày tôi làm nên, sẽ xin trả chu tất! Hồi bấy giờ có một vị quan tên là Nguyễn Kim trốn sang Lào mưu đồ việc diệt Mạc. Vua nước Lào nhường cho ông miếng đất Sầm Châu làm căn cứ để lo việc khởi nghĩa. Qua mấy năm chiêu binh mãi mã, Nguyễn Kim đã gây dựng được lực lượng. Nhưng ông ta còn muốn tìm một người thuộc dòng chính thống để bá cáo với thiên hạ. Khốn nỗi, con cháu vua Lê đã bị Mạc giết hại hầu hết. Một đêm nọ Nguyễn Kim thấy một vị thần nhân hiện ra trong giấc mộng bảo ông: “Thiên tử ra đời đã lâu sao không đón về còn chờ gì nữa?” ông hỏi: “ở đâu?”
-“Cứ đi về phía Tây kinh thành, ở dãy hàng cơm đúng ngày thìn giờ ngọ, hễ thấy rồng đen quấn cột là chính thị thiên tử”. Sau khi tỉnh dậy, Nguyễn Kim rất mừng, bèn mang theo một ít bộ hạ cải trang đi tìm con cháu nhà Lê theo như lời thần nhân đã mách. Hôm đó, Chổm đang ngồi ở hàng cơm, thấy có mấy người khách lạ đi qua bèn đứng ôm lấy cột nhìn ra. Nguyễn Kim rảo qua một lượt chỉ thấy quấn cột là một chàng trai trẻ tuổi da đen sì, nhưng thấy dáng điệu hèn hạ nên cũng không để ý. Đêm hôm đó Nguyễn Kim lại mộng thấy thần trách: “Ta đã mách cho biết thiên tử mà không nghe. Ngày mai ra bờ sông hễ thấy ai đội mũ sắt, cưỡi thuyền rồng là đúng”. Ngày mai Nguyễn Kim chực ở bờ sông nhìn những thuyền bè qua lại, nhưng chờ mãi chả thấy ai đội mũ sắt cả. Mãi đến gần tối có một chuyến đò ngang, trong đó có Chổm và một người bán chảo gang. Gặp khi trời đổ cơn mưa, Chổm không có nón, phải mượn chiếc chảo úp lên đầu cho đỡ ướt. Nhưng Nguyễn Kim không chú ý vì thấy y không có vẻ gì là người quyền quý. Thần lại xuất hiện trong giấc mộng của Nguyễn Kim trách ông ta không nghe lời mình rồi bảo: “Ngày mai cứ đến chỗ quán cơm cũ tìm người nào “đi chữ đại, trở lại chữ vương” thì đón về”. Qua ngày sau, Nguyễn Kim và bộ hạ lại kéo nhau đi tìm. Họ quả thấy anh con trai hôm nọ bây giờ đang rượu say nằm trong quán cơm, đầu gối lên ngọn côn, hai tay bỏ xuôi xuống, hai chân dạng ra hai bên như chữ “đại” . Bỏ đi một chốc, đến lúc trở lại họ thấy Chổm cựa mình, lúc này ngọn côn trật lên khỏi đầu, hai tay bỏ ra trước ngực còn hai chân thì xếp bằng tròn như chữ “vương” . Bấy giờ Nguyễn Kim mới tin chắc anh chàng này là người thần có ý mách cho mình, bèn giả cách vào quán ăn uống, chờ Chổm dậy sẽ đến làm quen. Chổm chợt tỉnh, thấy một người khăn áo có vẻ quyền quý đến sát giường mình, thì cầm côn chực bỏ chạy. Nhưng Nguyễn Kim đã giữ Chổm lại thưa rằng:
-Xin điện hạ đừng sợ. Chổm ngạc nhiên đáp:
-Lạ hay! Điện hạ nào. Tôi là thằng Chổm đây! Nhưng thấy người quyền quý ấy có vẻ ân cần khi hỏi thăm cha mẹ và chỗ ở, Chổm an tâm hơn trả lời:
-Tôi họ Lê, cha bị hổ ăn thịt, còn mẹ ở nhà. Nghe nói là họ Lê, bọn Nguyễn Kim mười phần đã chắc đến bảy tám, liền theo Chổm về đến tận nơi. Trước những người khách lạ, mẹ Chổm nửa mừng nửa sợ. Mãi đến khi biết được thiện ý của bọn họ bà mới đưa ấn ngọc ra và kể rõ tình đầu. Thế là từ đó Chổm cùng mẹ từ giã ngôi nhà nát ở ngoài thành lên đường đến Sầm Châu lo việc phục thù cho cha. Thanh thế quân Lê mỗi ngày một to. Vua Mạc nghe tin sai tướng đem sáu mươi vạn quân vào đánh.
Qua bao nhiêu trận kịch chiến, quân Lê đại thắng. Rồi không bao lâu, quân của Chổm tiến đánh ra Bắc. Quân Mạc hễ thấy quân Lê đến đâu là chạy trốn như vịt. Bấy giờ Chổm đường đường là một vị chúa uy thế lẫy lừng. Đến ngày khải hoàn, trở về kinh thành, khi quân gia đang trên đường tiến vào cửa ô thì bỗng có một số người chủ hàng cơm ngày xưa bán chịu cho Chổm,, từ đâu kéo ra để chào người quen và để đòi nợ cũ. Thấy thế, bọn lính tiền đạo toan bắt tội vô lễ. Nhưng chúa Chổm ngăn lại rồi kể chuyện ăn chịu ngày còn hàn vi cho các tướng tá nghe. Đoạn bảo quan hầu lấy tiền ra trả cho họ. Lúc đó có nhiều người thấy kẻ kia đòi được nợ cũng xúm lại kể ơn nghĩa cũ: kẻ tính thành năm quan, người kể thành mười, v.v… biến thành một cuộc truy nợ đông như đám hội. Bọn quan hầu đếm tiền mãi 65 - 66 không xiết vì con số chủ nợ mỗi ngày một tăng. Bọn họ bèn nghĩ ra được một kế là đứng trên kiệu vung tiền xuống cho ai nhặt được bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu. Mọi người thấy thế đổ xô ra cướp. Dần dần quan quân tiến đến phố cứ như bây giờ là vườn hoa cửa Nam. Một viên đại tướng nghĩ chúa mình sắp lên ngôi tôn mà khách nợ cứ chạy theo réo mãi như thế này thì còn thể thống gì nữa, mới viết vào một tờ giấy hai chữ “cấm chỉ” dán ở giữa phố và sai một toán quân đóng tại đó, ra lệnh hễ thấy ai còn đòi nợ chúa nữa thì chém ngay. Nhờ thế, người ta mới thôi réo và thôi đuổi theo xe Chổm.
Chúa Chổm vào đến hoàng cung thì trời sắp tối. Thấy văn võ bách quan ai cũng mong muốn mình lên ngôi ngay để yên lòng thiên hạ, Chổm bèn ngửa mặt khấn trời rằng: “Hỡi thượng đế, nếu tôi xứng đáng nối nghiệp nhà Lê thì xin quay mặt trời trở lại chính ngọ, bằng không thì tôi sẽ trở về chốn cũ làm ăn, giao quyền vị lại cho người khác”. Khấn được một lúc, quả nhiên trời sắp tối bỗng sáng hẳn, mặt trời lại treo giữa đỉnh đầu. Chổm đường hoàng bước lên đàn làm lễ đăng quang tự xưng hoàng đế. Lễ tất, mặt trời tự nhiên kéo một mạch về phương Tây lặn mất. Trời bỗng lại tối sầm như mực; lúc mọi nhà vừa thắp đèn lên thì gà vừa gáy canh.

Nguồn: Truyện cổ tích Tổng hợp.

 ***