Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014

Việt Nam Phong Tục: Trong Gia Tộc Phần 4

XII.   TỨ THỜI TIẾT LẬP

1.   Tết nguyên đán - Mồng một đầu năm là Têt Nguyên Đán. Tết này ăn to hơn cả tết trong một năm.
Trước nửa tháng Tết, nhà nào nhà ấy đã rộn rịp sắm Tết, nào ngưòi mua tranh mua pháo, nào ngưòi mua vàng hương mã mùng, đường mứt bánh trái v.v...
Các thầy đồ nhà quê ra chợ viết câu đôi bán. Các người đi buôn bán hoặc đi làm ăn xa xôi, đâu cũng nghỉ việc để về nhà ăn tết.
Cách Tết một vài hôm, ai nấy dọn dẹp nhà cửa, lau rửa đồ thờ đồ phượng. Câu đối đỏ dán cửa, dán cột sáng choang, treo tranh treo liễn trang hoàng lịch sự.
Nhiều nhà trước cửa có dán tranh quan tướng, hoặc dán bôn chữ Thần trà uất Lũy. Điển này do ở thường phong tục thông có nói rằng: ở dưới gốc cây đào lớn núi Độ Sóc có hai ông thần, gọi là Thần trà uất Luỹ, cai quản đàn quỷ. Hễ quỷ nào làm hại nhân gian thì thần ấy giết mà ăn thịt. Ta dùng bốn chữ ấy, có ý để cho quỷ sợ mà không dám vào cửa.

Lại có nhiểu nơi chặt tre dựng cây nêu, kết ba cái lạt ra, buộc một bó vàng. Hoặc lấy cành đa lá dừa cài ngoài cửa ngõ. Hoặc là rắc vôi bột trong sân ngoài ngõ, vẽ bàn cờ cái cung, cái nỏ v.v... cũng là có ý trù quỷ, kẻo sợ năm mới quỷ vào quấy nhà mình.
Nửa đêm hôm ba mươi rạng ngày mồng một, ở thành phô" nhà nào cũng bày hương án ra giữa sân đế cúng giao thừa. Ở về dân thôn quê thì các xóm tế giao thừa tại nơi điểm sở, trống đánh, pháo đốt ầm ầm. Tục ta tin rằng mỗi năm có một ông Hành Khiển, coi việc nhân gian: hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế để tiễn đưa ông cũ mà đón ông mới.

Sáng mồng một Tết thì làm cỗ cúng Gia Tiên, và cúng cả Thô Công, Táo Quân, Nghệ Sư v.v... cỗ bàn to nhỏ thế nào cũng được, nhưng làm sao cũng phải có bánh chưng, cá kho, giò, chả, dưa hành, thịt bò mới ra cỗ ngày Tết. Có nhà dựng hai cây mía cạnh bàn thờ để làm gậy cho ông vải.
Hôm ấy ăn nói phải giữ gìn, sợ nói bậy thì giông đi cả năm. Nhiều nhà nhờ một người phúc hậu dễ tính, sáng sớm đến xông đất, để cho cả năm được bán đắt buôn may.
Quét tước trong nhà phải kiêng không dám hốt rác đổ đi, chỉ vun vào một xó, đợi ba hôm động thổ rồi mới đem đổ. Tục này do ở trong "Sưu thần ký" có chuyện người lái buôn tên là Âu Minh đi qua hồ Thanh Thảo. Thủy thần cho một con hầu tên là Như Nguyện, đem về nhà được vài năm thì giàu to. Đến sau, một hôm nhân ngày mồng một Tết, đánh nó, nó chui vào đổng rác mà biến mất, từ đây nhà chàng kia lại nghèo đi. Bởi thế ta theo tục Tàu, kiêng không dám hốt rác.

Cúng gia tiên xong thì con cháu ra mừng tuổi ông bà cha mẹ, lạy hai lạy. Ông bà cha mẹ mừng cho con cháu mỗi đứa một vài xu hoặc một vài hào, gọi là tiền mừng tuổi.
Anh em, họ hàng, người quen thuộc, đến lẫn nhà nhau lạy gia tiên, chúc mừng cho nhau những câu: thăng quan, tiến tước, sinh năm đẻ bảy, vạn sự như ý, buôn bán phát tài .v.v..   '
Trong khi anh em đến chơi vối nhau, uống chơi chén rượu sen, rượu cúc, hoặc chén nưốc chè tàu, chè sen, hút điếu thuốc lào, hoặc uống rượu sâm banh, rượu sạc tời, rượu mùi, nhằn vài ba hạt dưa, ăn vài miếng mứt.

Thành phố Hà Nội, chỗ ngồi chơi thế nào cũng được: một vài củ thủy tiên, một vài chậu cúc hay là vài chậu cam quất.
Anh em bạn thăm nhau, mỗi người đưa một cánh danh thiếp đỏ, đề mấy chữ tên. Mấy năm nay thì nhiều người dùng cạt-vi-dích (carte visite). Trước kia đi lại lễ bái phiền lắm, nay nghe đã dần dần bỏ rồi.
Có nhà ăn Tết một hôm, có nhà ăn Tết ba hôm, có nhà ăn đến bảy hôm, nhưng phần nhiều là ăn Têt ba hôm.
Các nhà con thứ, cha mẹ còn thì đem biếu thức nọ thức kia. Cha mẹ mất rồi thì hôm mồng hai Tết, phải làm cỗ đem đến nhà con trưởng cúng cha mẹ. Người nghèo thì đem giầu cau vàng hương đến lễ cũng được.
Ngày mồng ba cũng như ngày mồng hai.
Đến ngày mồng bốn thì hóa vàng. Ngày ấy xấu hay là chạm phải ngày tuổi chủ nhà thì hóa trước sau một ngày cũng được, có nhà để đến mồng bảy mới hóa vàng; gọi là ngày cúng tiễn ông vải. Hôm ấy con cháu họp đông đủ mà ăn uống vui vầy với nhau.
Trong mấy hôm Tết, ngày nào cũng đốt pháo. Điển đốt pháo do ở "Kinh sở tuế thời kỳ" có nói rằng: Sơn tiêu (ma núi) phạm vào người thì người sinh đau ốm, nó chỉ sợ tiếng pháo, hễ đốt pháo thì nó không dám đến. Nhưng tục ta thì cho tiếng pháo là tiếng vui mừng chớ không có ý để trừ quỷ.

Đến ngày mồng hai Tết giở đi, người thì chọn ngày xuất hành, người thì hái cành hoa về cài vào cửa, gọi là đi hái lộc. Người làm quan thì chọn ngày khai ân, học trò thì chọn ngày khai bút, nhà buôn bán thì chọn ngày mở cửa hàng, nhà quê thì chọn ngày làm lễ động thổ. Trăm công nghìn việc lại bắt đầu từ đó.
Suốt một tháng giêng, già trẻ trai gái, kẻ chợ nhà quê, quần điều áo thâm, kẻ thì lễ bái chùa này miếu nọ, người thì du ngoạn cảnh nọ cảnh kia, chỗ thì thi hoa đăng chỗ thì hội hè hát xướng. Các người nhàn, năm ba ngưòi tụ lại đánh bài đánh bạc. Ngoài ngã ba ngã bảy, đám thì quay đất, đám thì lúc lắc thò lò, tổng chi gọi là cách thưởng xuân.

2.Tết Hàn Thực - Ngày mồng ba tháng ba là Tết Hàn thực. Hàn thực nghĩa là ăn đồ lạnh. Điển này nguyên ở Tàu: về đời Xuân Thu, vua Văn Công nhà Tấn, còn khi long đong trốn nạn, nay trú nước Tề, mai ngụ nước Sở. Bấy giờ có một người hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi, theo vua giúp đỡ mưu kế. Có một hôm, vua đi đường thiếu lương đói quá, bọn đầy tớ không thể kiếm lương vào đâu được. Giới Tử Thôi phải cắt thịt đùi mình ra, nấu nướng ngon lành, dưng lên vua xơi, vua ăn xong hỏi ra mới biết, đem lòng cám cảnh vô cùng. Theo trong mười chín năm giòi, trải nếm bao nhiêu gian truân nguy hiểm. Đến lúc Văn Công lại được giở về làm vua nước Tấn, phong thưởng cho những người có công trong khi tòng vong, nhỡ quên mất công của Giới Tử Thôi. Giới Tử Thôi cũng không oán giận gì, nghĩ mình làm được việc gì, cũng là cái nghĩa vụ của mình, chớ không có công lao gì đáng nói. Vì vậy về nhà đem mẹ vào ở ẩn núi Điền Sơn. Sau vua nhớ ra, sai người vàọ núi tìm không được, Vua sai đốt rừng ấy cho ông phải ra. Nhưng ông cũng không chịu ra, đành hai mẹ con chịu chết cháy. Vua thương xót, lập miếu thờ trên núi và phong cả khu rừng đó làm tự điền.
Hôm ông ấy chết là ngày mồng 5 tháng ba. Người xứ đó thương ông ấy, cứ mỗi năm đến ngày ấy thì cấm đốt lửa ba ngày mà bắt đầu từ hôm mồng ba, chỉ ăn đồ lạnh đã nấu sẵn mà thôi.
Ta nhiễm theo tục ấy, thành ra ăn Tết hôm mồng ba. Mà ta thì làm bánh trôi bánh chay để thế cho đồ lạnh, nhưng ta chỉ cúng gia tiên, chứ không ai tưởng gì đến Giới Tử Thôi, mà tiếng là hàn thực, nhưng nấu nướng chẳng có kiêng gì.

3.Tết Thanh Minh - Trong khoảng tháng ba, có một tiết hậu gọi là tiết Thanh Minh. Thanh Minh nghĩa là tròi độ ấy mát mẻ quang đãng. Tục Tàu hôm ấy, giai nhân, tài tử, đua nhau đi tảo mộ, gọi là Hội Đạp Thanh. Ta không ăn Tết ấy, nhưng cũng nhiều người nhân dịp ấy mà đi tảo mộ. Tảo mộ là đi thăm mộ tiền nhân, cỏ rậm thì phát cho quang, đất khuyết thì đắp bồi lên, rồi về nhà cũng làm cỗ cúng gia tiên.

4.Tết Đoan Ngọ - Mồng năm tháng năm, gọi là tết Đoan Ngọ, hay ỉà Đoan Dương.
Tết này ta hay lấy lá móng nhuộm các đầu ngón tay, ngón chân cho trẻ, mà trừ ra ngón tay trỏ và ngón chân trỏ. Sáng sớm hôm ấy, ăn rượu nếp, trứng luộc, kê, bánh đa, đào mận, muỗm, dưa hấu, uống nưóc dừa. Người lớn thì uống rượu hòa ít tam thần đơn, hoặc hồng hoàng vào thóp đầu, vào ngực, vào rốn để trừ trùng.
Nhiều người mua bùa chỉ đeo cho con trẻ. Bùa chỉ kết bằng chỉ ngũ sắc, và lấy những mụn lụa mụn the kết hoa sen, quả đào, quả khế, quả ớt v.v... Lại may áo lụa đem đến các cửa chùa, cửa tĩnh in dấu vẽ bùa rồi mặc cho trẻ, có ý để trừ tà ma cho khỏi quấy.
Giữa buổi trưa hôm ây thì làm cỗ cúng gia tiên, rồi đi hái lá mồng năm, bất cứ lá gì, bạ gặp lá gì cũng hái, mà nhất là hay hái lá ích mẫu, lá cối xay, lá muỗm, lá vốĩ v.v... Đem về ủ rồi phơi cho khô, về sau đem nâu uống, cho rằng uống thế thì lành.
Tục hái lá do tự điển Lưu Thần, Nguyễn Triệu đời nhà Tấn. Hôm mồng năm hai gã vào núi Thiên Thai hái thuốc gặp tiên bỏi thế thành tục.
Lại nhiều người đi lấy lá ngải cứu, tùy năm nào thì kết hình con thú năm ấy (theo mười hai tiểu hình), như năm Tý thì kết con chuột, năm Sửu thì kết con trâu, năm Dần thì kết con hùm, năm Mão thì kết con mèo v.v... Kết đoạn treo giữa cửa, để trừ sự bất tường, và để về sau ai có bệnh đau bụng, thì dùng làm thuốc tốt lắm.
Tục này không rõ nguyên ủy từ đâu, có người cho là do từ đời Xuân Thu. Bấy giờ nước sỏ có một vị trung thần tên là Khuất Nguyên, vì can ngăn vua Hoài vương không được, bực mình ôm đá gieo mình xuống sông Mịch La mà tự vận. Hôm ấy chính là ngày mồng năm tháng năm, xứ ấy thương tiếc người trung nghĩa, cứ mỗi năm đến ngày ấy thì làm bánh đường bánh ngọt, cuốn chỉ ngũ sắc ở ngoài rồi đua nhau bơi thuyền ra giữa dòng sông mà ném bánh xuôrig để cúng ông ấy. Cuộn chỉ ngũ sắc là có ý làm cho cá sợ khỏi đớp mất.
Vậy Tết ấy là một ngày kỷ niệm ông Khuất Nguyên, mà ta thì thấy người Tàu ăn Tết cũng theo. Nhưng theo thì theo chớ không cúng gì Khuất Nguyên.

5.Tết Trung Nguyên - Rằm tháng bảy gọi là Tết Trung Nguyên. Ta tin theo sách Phật, thường cho hôm ấy là ngày vong nhân xá tội, nghĩa là người dưới âm phủ được tha tội một ngày hôm ấy. Bởi vậy nhiều nhà mua vàng mã cúng gia tiên, các nhà có người mới mất, cũng hay đổt mã làm chay về hôm ấy.
Tục đốt mã do tự bên Tàu, đời xưa thường dùng đồ ngọc bạch để cúng tế. Đời sau dùng tiền để thế cho ngọc bạch. Đến đòi vua Huyền Tôn nhà Đường, thấy dùng tiền phí lắm, mới truyền cho làm tiền giấy mà thay vào tiền thực. Đến đời Đường Túc Tôn, người Vương Dữ làm quan Tù tế sứ, giữ riêng về việc tế tự dùng toàn bằng tiền giấy để cúng cấp rồi đốt đi. Đòi Ngũ Đại lại chế thêm ra áo giấy, mũ giấy mà cúng cấp quỷ thần.
Trong sách "Mộng hoa lục” nói rằng: ngày Trung nguyên mua đồ mã, áo mã cúng cấp, dùng cái giường vu lan làm bằng tre, có ba chân, rồi treo tiền của và đồ vàng mã lên trên giường mà đốt. Lục Du lại nói rằng: Tục cứ ngày rằm tháng bảy, làm một mâm cỗ đơn sơ, cúng Thần Tiên chức (thần sinh ra sự dệt cửi) rồi dùng tiền giấy mà đốt.
Xét ra điều trên này, chắc là tục đốt mã của ta cũng bởi đó mà ra.

6.Tết Trung Thu - Rằm tháng 8 là Têt Trung Thu. Tết này ta thường gọi là Tết trẻ con, nhưng có nhà tôn phí nhiều lắm.
Ba ngày làm cỗ cúng gia tiên, tối đến bày cỗ thưởng nguyệt. Đầu cỗ là bánh mặt trăng, và dùng nhiều thứ bánh trái hoa quả, nhuộm các màụ các sắc sặc sỡ xanh, đỏ, trắng, vàng. Con gái hàng phô' thi nhau tài khéo, gọt đu đủ thành các thứ hoa nọ hoa kia, nặn bột làm con tôm con cá coi cũng đẹp.
Đồ trẻ con chơi trong Tết này toàn là các thứ bồi bằng giấy, như là: voi, ngựa, kỳ lân, sư tử, rồng hươu, tôm cá, bươm bưổm, bọ ngựa, cho chí cành hoa, giàn mướp, đèn cù, đèn xẻ rãnh, đình chùa, ông nghè đất, con thiềm thừ .v.v... Có nhà một vụ Tết, bán các đồ ấy được tới một vài trăm bạc. Mưòi năm nay họ lại chế ra đồ chơi bằng sắt tây cũng tranh được mối lợi của trẻ con ít nhiều.
Trẻ con tối hôm ấy, dắt díu nhau từng đàn từng lũ đám thì nhảy vô, đám thì kéo co, đám thì bắt cái hồ khoan, đám thì rước đèn, rước sư tử, trống, thanh la đánh váng cả đường, tiếng reo hò, tiếng đùa rầm rĩ.
Lại nơi nọ hát trống quân, nơi kia hát trông quít, tổng chi gọi là cách Trung Thu thưởng nguyệt.

Tục treo đèn bày cỗ, chắc do ở điển vua Đường Minh Hoàng. Hôm ấy là ngày sinh nhật vua Minh Hoàng, truyền cho thiên hạ đâu đâu cũng treo đèn, bày tiệc ăn mừng, rồi ta cũng theo mà thành tục.
Tục rước đèn thì do tự đời nhà Tông. Vì tục truyền rằng: trong đòi vua Nhân Tôn, có con cá chép thành yêu, cứ đêm trăng hiện lên là con gái mà đi hại người. Bấy giờ ông Bao Công mới sức cho dân gian làm đèn con cá giông như hình nó mà đem rong chơi ngoài đường để cho nó sợ mà không dám hại người nữa. Lòi ấy huyền hoặc lắm, vị tất đã thật.
Tục hát trông quân thì do từ đời Nguyễn Huệ bên ta mới bày ra. Nguyên khi ông đem,quân ra Bắc, quân sĩ lắm kẻ nhớ nhà. Ông ấy mới bày ra một cách cho đôi bên giả làm trai gái hát đối đáp với nhau, để cho quân sĩ vui lòng mà đỡ nhớ nhà. Có đánh trống làm nhịp, cho nên gọi là trống quân.

7.Tết Trùng cửu- Mồng chín tháng chín gọi là Tết trùng cửu. Tết này không mấy nhà ăn, nhưng đôi khi cũng có người ăn theo tục Tàu.
Nguyên từ đòi nhà Hán, có người Hoàn Cảnh theo học ngưòi Phí Tràng Phòng. Tràng Phòng một bữa bảo Hoàn Cảnh rằng: mồng chín tháng chín nhà anh có nạn to, nên cho người nhà mỗi ngưòi may một cái túi lụa, đựng hoa thù du, buộc trên cánh tay, rồi lên chỗ nào cao mà uổng rượu cúc, thì mối tiêu được nạn ấy. Hoàn cảnh nghe lòi thầy, quả nhiên bữa đó người không việc gì mà gà chó ở nhà thì chết cả. Tàu vì thế cứ đến ngày ấy thì hái hoa thù du, lên cao uống rượu. Ta thỉnh thoảng có ngưòi cao hứng cũng uống rượu cúc, gọi là thưởng tết trùng dương.

8.Tết Trùng thập - Mồng mười tháng 10 là tết Trùng thập. Tết ấy phần nhiều là các nhà đồng cốt và nhà thầy thuốc mới ăn thôi. Nhưng về nhà quê cũng nhiều nơi ăn, có nơi ăn to lắm, như ở về vùng phủ Hoài thì làm bánh dày, nấu chè kho, trước cúng thần, cúng gia tiên, rồi đem biếu những ngưòi quen thuộc.
Các nhà thầy thuốc thì vì thu lễ thu tiền mà ăn Tết một là để cúng cấp, hai là để khoản đãi các đệ tử và các bạn hàng.
Ở về vùng Thanh Trì thì lại ăn Tết Trùng thập về ngày 31 tháng 10. Đại để nhà quê là vì việc gặt hái đã xong, nhớ đến công tiên nông mà cúng tế, và an ủi cho sự khó nhọc mọi ngày.
Còn phần nhiều thì cúng gia tiên mà thôi.

9.Tết Táo quân - Hai mươi ba tháng chạp là Tết Táo quân. Ta thường cho hôm ấy là ngày vua bếp lén chầu trời: Nguyên ở trong đạo Lão Tử có nói rằng: ngày hai mươi ba tháng chạp thì Táo quân lên chầu tròi dể tâu việc thiện ác của nhân gian.
Lại có sách nói rằng: ngày xưa có hai vợ chồng nghèo phải bỏ nhau. Người vợ về sau lấy được ngươi chồng giàu có. Một hôm cúng đốt mã ngoài sân, có một người vào ăn xin, người đàn bà trông thấy là người chồng cũ của mình, động lòng thương cảm, đem cơm gạo tiền bạc ra cho. Ngươi chồng sau biết chuyện, nghi cho vợ. Vợ xấu hổ đâm đầu vào đông lửa mà chết. Người chồng cũ cảm tình ân nghĩa, cũng đâm đầu vào lửa chết theo. Người chồng sau thương vợ, cũng nhảy vào nốt, thế là chết cháy cả ba. Thượng đế thương cho ba người cùng có nghĩa mói phong cho làm vua bếp.
Ta theo hai điển ấy, cho nên cứ đến ngày ấy, thì mua hai mũ ông, một mũ bà để thờ và mua con cá chép để làm ngựa cho táo quân lên chầu tròi.

10.Trừ tịch - Ba mươi tháng chạp là ngày trừ tịch. Trừ tịch là chiều hôm trừ hết năm cũ mà sang năm mới. Lại một nghĩa là trừ khử ma quỷ. Nguyên tục bên Tàu ngày xưa, cứ về hôm ấy thì dùng một trăm hai mươi đứa trẻ con độ chín, mười tuổi, mặc áo thâm, đội mũ đỏ, cầm trống, vừa đi đưòng vừa đánh để khử trừ ma quỷ, cho nên gọi là trừ tịch.
Ta thường không hiểu ngày ấy là một tết riêng, cho là ngày tiên thường hôm nguyên đán. Cho nên cứ hôm ấy thì đem trầu cau đi thỉnh tảo tiên phần, rồi về cúng Tết.

Xét về các ngày ăn Tết của ta, phần nhiều là noi theo tục Tàu, nhưng chủ ý thì chỉ nhân ngày tuần tiết mà dâng cúng gia tiên, chớ không có ý gì nhớ đến người Tàu cả.
Cứ như nước ta khi xưa, quanh năm chí tối làm ăn, mồ hôi nước mắt không có thì giờ nghỉ ngơi. Nhà làm ruộng thì sáng vác cuốc, trưa vác cày, hết mùa cấy đến mùa gặt quanh năm chí tối, chân lấm tay bùn. Người làm thợ thì canh ba chưa nằm, canh năm đã dậy, làm lụng chúi mũi chúi lái, không lúc nào mở mắt ra được. Người đi buôn thì nay ngược mai xuôi, tất ta tất tưởi đê cầu lấy chút lợi cho nên giàu nên có. Người đi học thì nung kinh nấu sử, thức khuya dậy sớm để cầu lấy chút danh phận cho vẻ vang cùng người. Nói tóm lại thì tính An-nam ta rất là cần mẫn, chịu thương chịu khó, mà không có ngày nào là ngày chủ nhật. Vậy nên thỉnh thoảng phải có một ngày nghỉ ngơi ăn chơi cho giải trí. Nhưng chẳng lẽ tự nhiên vô cớ mà nghỉ công nghỉ việc, mà ăn chơi không. Vậy mới nhân tuần này tiết nọ, bày ra cách ăn Tết, trước là đem lòng thành kính, thờ phụng tổ tiên, sau là được một ngày nhàn nhã, cầm chén rượu mà yên úy tinh thần.

Cứ như chủ ý thì cách ăn tết của ta cũng không hại gì. Nhưng chỉ hiềm ta hay tin những chuyện huyền hoặc của Tàu mà không nghĩ đến nghĩa lý gì cả. Thờ phụng thì cứ việc mà thờ phụng, ăn chơi thì cứ việc mà ăn chơi. Ma quỷ đâu mà lại phải đốt pháo đốt vàng? Sâu bọ nào mà lại giết bằng đào, bằng mận. Lá mồng năm uổng bậy uống bạ, uống không khéo thì hóa ra sinh bệnh, đốt mã, vàng, hương cho nhiều chẳng qua chỉ tổ tốn tiền. Thưởng trăng thu cũng là một cách vui, bầy cỗ thi tài thì khí nhỏ mọn quá. Tiễn vua bếp đã là một chuyện hão huyền, mua cá làm ngựa mới lại nực cười thay!

Vả lại tục ta ăn Tết, không có ý vị gì là cao xa. Xem như tục Âu châu, trong một năm cũng có Tết nầy Tết nọ, nhưng trừ ra một ngày đầu năm, thì là những ngày kỷ niệm chung của xã hội. Như ngày mưòi bôn Juillet là một ngày mới kéo lại dân quyền, ngày ấy mới đích đáng là ngày ăn Tết. Hoặc ngày sinh nhật của một Giáo tổ, cũng nên kỷ niệm để cho nhớ đến gốc đạo của mình. Vậy thì sự hội hè Tết nhứt của Âu châu là để ghi nhớ lấy sự hay, và làm cho quốc dân phấn khởi tinh thần, chớ không phải một vị ăn chơi mà thôi. Mà ăn thì có .phiền vãn gì đâu, ngày Tết đầu năm chẳng qua anh em đưa cái "carte visite" thăm nhau là cùng, nghỉ một ngày làm việc, cũng như ngày chủ nhật mà thôi.
Còn ngày kỷ niệm tháng bảy thì treo đèn kéo cò, ăn mừng một vài hôm, rồi lại ai công việc gì chăm công việc ấy, chớ không lôi thôi như ta, ăn chơi đến hàng tháng, vừa tốn tiền lại vừa phí cả thi giờ.
Ta từ xưa đến giờ, há lại không có một việc gì đáng cho dân ta kỷ niệm chung hay sao? Sao không nhớ lấy mà ăn Tết, mà lại nhớ đến Giới Tử Khôi, Khuất Nguyên bên Tàu? Dẫu chẳng nhớ gì ngưòi Tàu nữa, nhưng theo tục riêng của người ta mà dùng làm ngày cúng gia tiên nhà mình, thì cũng vô vị lắm.


XIII.   GIÁ THÚ

Tuổi đính hôn - Con trai con gái độ mưòi lăm, mười sáu tuổi giở lên, đã là tuần sắp sửa lấy vợ lấy chồng. Hai ba mươi tuổi mới cưới gọi là muộn. Cũng có nhà cưới cho con từ năm mười hai, mười ba tuổi, có nhà ước hôn với nhau từ trong thai.
Tục vợ chồng cứ hơn kém nhau một hai tuổi là vừa đôi.

Dạm hỏi - Trước hết kén chọn chỗ nào môn đăng hộ đối, xem đôi tuổi không xung khắc nhau, mối mượn mổĩ lái. Mốĩ lái nói với cha mẹ người con gái bằng lòng gả rồi, nhà trai mới đem cau đem chè đến dạm. Từ đó thì mồng năm ngày Tết hoặc là ngày kỵ nhật nhà gái, người rể phải đưa đồ lễ vật đến mới là trọng thế. Cách ít lâu thì làm lễ ăn hỏi: nhà trai đem cau chè, lợn xôi đến nhà gái lễ gia tiên, có nhà dùng cách giản tiện thì chỉ dùng cau, chè, mứt mà thôi. Ở Quảng Nam thì trong lễ ăn hỏi thường lại thêm một đôi hoa tai vàng nữa.

Xêu - Ăn hỏi rồi mới xêu. Xêu thì mùa nào thức ấy, như mùa vải thì Xêu vải, mùa dưa thì xêu dưa v.v...
Có nơi một năm chỉ xêu bôn mùa. Tháng ba xêu vải, tháng năm xêu dưa hấu, đường, mắm, chim, ngỗng, tháng chín xêu hồng, cốm, gạo mới, chim ngói, tháng chạp thì xêu cam, mứt, bánh côm. Đồ xêu nhà gái lấy một nửa, còn một nửa giả lại nhà trai gọi là đồ lại mặt.

Cưới - Xêu xong một năm hoặc nửa năm thì cưới, cũng có khi phải xêu hai ba năm mới được cưới. Nếu không xêu mà xin cưới thì là thiếu lễ, người ta chê cười, mà nhà gái không mấy người nghe.

Trao thơ, thách cưới - Trước khi muôn cưới thì đôi bên nhà giai và nhà gái đều quang quẻ cả mới được, nghĩa là người chủ hôn không có tang chế gì. Cưới thì nhà giai viết thư hỏi xem nhà gái ăn những lễ vật thế nào. Nhà gái muốn những thức gì thì viết thư giả lời nhà giai. Nhà giai liệu thế lo được thì mới chọn ngày lành tháng tốt, đính ước ngày cưới với nhà gái. Nếu nhà gái lấy lễ nặng quá thì nhà giai xin bớt đi ít nhiều. Nhà gái không nghe thì có khi lại hoãn việc lại. Mà nhà giai bất đắc dĩ phải lo thì có khi vì thế mà hai bên sui gia sinh ra oán ghét nhau.
Đồ thách cưới thì đại để: Bao nhiêu lợn gạo, hoặc ăn bò thì thách bò, bao nhiêu chè, bao nhiêu cau, bao nhiêu rượu, vòng, nhẫn, hoa, hột, quần áo, chăn màn, và kèm theo thêm bao nhiêu bạc v.v...

Đám cưới - Về vùng hương thôn với nhau, cưới thường đi về đêm. Lúc đi phải chọn giờ hoàng đạo mới đi, và phải có người đàn ông dễ tính ra đón ngõ trước, khi ra thì reo ầm cả lên rằng gặp trai, để cho mọi việc được dễ dàng mau mắn. Trong đám cưới có một ông già (kén ông nào hiền lành, mà vợ chồng còn song toàn, lắm con nhiều cháu mới tốt) cầm một bó hương đi trước, rồi đến các người dẫn lễ, kẻ đội mâm cau, người khiêng lợn rượu v.v... Chú rể thì khăn áo lịch sự, có một đám thân thích dẫn đi. Khi đến nhà vợ, dàn bày đồ lễ, người chủ hôn nhà gái khấn lễ gia tiên rồi thì người rể vào lễ.

Tế tơ hồng - Bày hương án ra sân, dùng lễ gà, xôi, giầu, rượu, tế tơ hồng, rồi hai vợ chồng đều vào lễ.
Điển tế tơ hồng do chuyện ngày xưa, bên Tàu có một người tên là Vi Cố, một bữa đi chơi trăng, gặp một ông già đang xe các sợi dây đỏ ở dưới bóng giăng. Hỏi thì ông ấy nói rằng ta là Nguyệt lão coi việc xe duyên cho vợ chồng nhân gian, ta đã buộc sợi dây này vào chân ngưòi nào thì dù thế nào cũng phải lấy nhau. Vì thế ta cho việc vợ chồng là có ông Nguyệt lão định trước, cho nên thành vợ thành chồng rồi thì phải tạ ơn ông ấy, và cầu ông ấy phù hộ cho ở được trăm năm với nhau.
Tế tơ hồng rồi thì ngưòi rể vào lạy cha mẹ vợ (tục ấy ngưòi theo lổì văn minh bây giò không chịu). Rồi đợi cho họ hàng ăn uống xong mới về.

Đưa dâu - Sáng hôm sau thì đưa dâu, nhà trai nhà gái cùng ăn mừng, làm cỗ bàn, mời bà con khách khứa. Bà con khách khứa mừng nhau thì kẻ mừng tiền, người mừng chè, cau hoặc là câu đổi đỏ v.v... Mà thường chỉ mừng bên nhà trai, chớ không mấy nơi mừng bên nhà gái, duy ở thành phố thì có mừng bên nhà gái, nhưng chỉ mừng cho ngưòi con gái hoặc một vài vuông nhiễu điều, hoặc may sẵn thành yếm mà thôi.
Đưa dâu, nhà gái cũng kén một ông già cầm bó hương đi trưóc, rồi bà con họ hàng dẫn cô dâu đi sau. Đến nhà trai rồi thì một vài bà già dẫn cô dâu vào lạy gia tiên, rồi đưa đi lễ nhà thờ đôi bên bố chồng mẹ chồng. Đoạn trở về mới lạy cha mẹ chồng, hoặc còn ông bà chồng cũng lạy ông bà cha mẹ chồng, mỗi ngưòi mừng cho một vài đồng bạc hoặc một vài chục.
Họ hàng ăn uống xong thì lấy phần. Phần phải có xôi thịt, bánh trái, giò chả, cau chuôi mới là cỗ cưói.

Ở thành phố thì thách cưới thường nặng hơn ở nhà quê mà không có lệ đi ăn cưới đêm. Cưới ban ngày xong thì đón dâu về ngay. Trong khi cưới và khi đón dâu, hai ông già cầm hai cái lư hương ngồi xe che lọng xanh đi trước, rồi các kẻ dẫn lễ, nào ngưòi đội mâm cau trùm vải tây đỏ, nào kẻ khiêng chóe rượu, khiêng quả phù trang. Trưóc còn đi bộ, ít nay đám thì đi toàn xe cao su, đám nào khoe sĩ diện thì đi toàn xe song mã.
Lễ bái cũng như cách nhà quê. Ăn xong cũng có phần, phần có những bánh đường bánh ngọt, lại thêm một cái khăn mặt đỏ để gói phần. Sau lại có bánh dầy bánh chưng chia biếu những ngưòi quen thuộc nữa.

Phương thuật - Trong khi cô dâu đi đường, ăn mặc tốt đẹp e thiên hạ quở quang, phải cài vài cái kim vào choàng áo, đế có ai độc mồm độc miệng, thì đã có kim ấy trấn áp đi. Có nơi lại đặt hỏa lò giữa cửa cho cô dâu bước qua, cũng là ý ấy. Cũng có nơi dâu mới đến cửa, mẹ chồng cầm bình vôi tránh đi một lúc, có nơi dâu mới đến cửa, một ngươi lấy chày cổì giã một lúc, tục ấy thì ngộ quá, không hiểu ý làm sao

Đóng cửa, giăng dây - Trong khi cưới và lúc đưa dâu, lại có tục đóng cửa, giăng dây. Lúc nhà trai đem lễ cưới đến nhà gái thì bên nhà gái, hoặc trẻ con, hoặc đứa đầy tớ đóng cửa không cho vào. Nhà trai phải cho chúng nó dăm ba hào, một đồng bạc thì chúng nó mối mở cửa.
Trong lúc đi đường thì những kẻ hèn hạ hoặc lấy sợi chỉ đỏ, hoặc mảnh vải, lụa đỏ giăng ngang giữa đưòng, đám cưối đi đến, phải nói tử tế mà cho chúng nó vài hào, thì chúng nó mới cỏi dây cho đi. Chỗ thì chúng nó bày hương án, chờ đi đến, đốt một bánh pháo ăn mừng, chỗ ấy phải đãi họ một vài đồng mới xuôi. Nếu bủn xỉn mà không cho chúng nó tiền, thì chúng cắt chỉ cắt dây nói bậy nói bạ, chẳng xứng đáng cho việc vui mừng, vì vậy đám nào cũng phải cho.
Tục giăng dây này đã có lâu. về đòi Huyền Tôn, người Đường Thiệu đã dâng biểu nói rằng: ngày người ta đón dâu, những kẻ hèn hạ thường hay lấy xe ngăn trở đưòng đi đòi cỗ bàn ăn uống. Tục ấy mỗi ngày một thịnh, đến nỗi các đám cưới của nhà Vương công, chúng nó cũng tụ họp đàn lũ, che lấp đường đi, làm cho lôi thôi thì giờ, để đòi tiền của, thành ra tiền giăng dây nặng hơn tiền cưới, xin cấm hết đi mới được, xem vậy thì tức là tục giăng dây của ta bây giờ.

Giao duyên - Tôi hôm cưới, người chồng lấy trầu trăm (trầu tế tơ hồng), trao một nửa cho vợ, rót một chén rượu, mỗi người uống một nửa, gọi là lễ hợp cẩn. Vợ giải chiếu lạy chồng hai lạy, chồng đáp lại vái một vái. Tục ấy nhà đại gia mới dùng đến, nhà thường thì không mấy người dùng.

Lại mặt - Cưới được ba hôm, đến hôm thứ tư thì hai vợ chồng làm lễ chè xôi đem về nhà vợ lạy gia tiên, gọi là lễ lại mặt, chữ gọi là tứ hỉ.

Tục Mường - Tục cưới về Mường, Mán rất nực cười. Khi cưới, nhà gái nấu một nồi nước bẩn thỉu, cả nhà khóc lóc chờ khi họ hàng đưa dâu ra cửa thì lấy gạo muối ném theo và rẩy nước bẩn ấy, hễ ai chạy không mau thì bẩn cả quần áo.

Tục cưới của ta, cũng là noi theo tục Tàu. Tàu có sáu lễ: nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp tệ, thỉnh kỳ, thân nghênh.
Có chữ rằng: "Lục lễ bất trị, trinh nữ bất hành" nghĩa là sáu lễ không đủ, thì người gái trinh không đi. Sáu lễ ấy đại khái như lễ dạm, lễ hỏi, lễ xêu, lễ cưới của ta v.v...
Xét trong tục cưới xin của ta, có mấy điều trái với cách văn minh nên đổi:
Một là lấy vợ lấy chồng sớm quá. Tục Âu châu trai, gái đúng tuổi khôn lớn, ít ra cũng mười tám, hai mươi tuổi trở lên mới dựng vợ gả chồng. Ta thì thường cho sự có con cháu sớm là nhà có phúc, cho nên lắm nhà con mới mười bốn, mười lăm tuổi huyết khí chưa được sung túc, đã có vợ có chồng, thậm chí có đứa con gái hỉ mũi chưa sạch đã đi về làm dâu. Vì thế sinh con đẻ cái ra nhiều đứa còm cõi ngang nghiu, gây nên một giống nòi yếu ớt. Vả lại lúc tuổi trẻ, còn đang là tuổi hoc hành, tìm kế lập thân, vậy mà đã vướng víu về đường vợ con, thì còn làm gì được nữa, thành ra lại làm cho hư cả người.
Hai là trai gái không được tự do phôn phổi.
Tục Au châu trai gái phải biết nhau trước, cha mẹ cho tự ý kén chọn, có thuận tình thì cha mẹ mới gả. ơ ta chỉ cứ tùy ý cha mẹ, tìm nơi xứng đáng thì gả dẫu con không bằng lòng cũng nài ép cho phải lấy, mà thường nhiều khi cha mẹ gả bán lẫn cho nhau cũng nên. Vì vậy lắm khi vợ chồng lấy nhau rồi, sinh ra chê bai nhau, oán ghét nhau, không được hòa thuận, đến nỗi lìa nhau, mà dẫu có e sợ danh tiếng, gượng ở với nhau, thì cũng sầu não trong lòng, chẳng những là công việc trong nhà lủng củng chẳng ra gì, mà đường sinh dục cũng không được tốt.
Ba là tục thách cưới. Vợ chồng lấy nhau là một nghĩa vụ, trai phải có vợ, gái phải có chồng, đôi bên đều có tư ích lẫn cho nhau, chớ không phải lợi riêng cho bên nào cả. Vậy mà ta lắm người coi sự gả chồng cho con như là bán con, trừ ra sự may mặc sắm sửa đã bắt nhà trai phải lo, lại thách đến tiền đến bạc. Lắm người nghiệt quá, không đem đủ tiền không nghe, làm cho sui gia sinh oán ghét nhau cũng vì đó. vả lại chẹt người ta quá, ngưòi ta cũng phải miễn cưỡng đi vay mượn mà lo xong việc, rồi thì cái nợ ấy, có khi con mình vê nhà chồng lại phải nai lưng cố sức ra làm ăn đê trả, thế có phải là mình vụ hư danh hoa hoè một lúc, mà đê khô cho con không?
Cứ như phép Châu Lễ "Phàm lấy vợ, dẫn lễ cưới, lụa tốt không được quá năm lượng". Năm lượng nghĩa là mười cuốn lụa. Ông Chu Tử có luận rằng: "Lễ cưới ngày xưa giản dị như thế, đến đời sau tục dân ngoa ngoét, thường thường giảng đến cái lễ của cải đòi tiền đòi bạc. Các nhà hào phẩm, lại muốn trang sức thể diện, đòi vàng lụa cho nhiều, không đủ thì trách móc lẫn nhau, đó là trái với lễ".
Thiết tưởng sự trai gái lấy nhau, trước hết phải chờ cho đúng tuối khôn lớn, biết cách lập thân, rồi hãy cho lấy nhau, mà lấy nhau thì phó mặc cho tùy ý kén chọn, cha mẹ không nên nài ép lòng con, trừ ra con không biết đường kén lấy phải kẻ chẳng ra gì thì cũng nên ngăn cấm lại mà thôi. Còn như đôi bên đã tốt duyên phải lứa, đã thuận tình nhau thì không nên quản gì giàu với nghèo, tùy thế mà khu xử, miễn là phải thế thì thôi, chớ nên lấy sĩ diện mà hà cầu khắc trách chi nhau quá.

XIV.   VỢ CHỔNG


Tiếng gọi - Vợ chồng con nhà sang trọng gọi nhau bằng cậu mợ, thầy thông thầy phán thì gọi nhau bằng thầy cô, nhà thường thì gọi nhau bằng anh chị. Có con rồi thì gọi nhau bằng thầy em, đẻ em, nhà thô tục thì gọi nhau là bố cu mẹ đĩ, có người thì gọi bô nó mẹ nó, có người cả hai vợ chồng gọi lẫn nhau là nhà ta. Ở Quảng Nam thì vợ gọi chồng là anh, chồng gọi vợ là em. Ở Nghệ Tĩnh vợ chồng gọi là gấy nhông.

Đạo vợ chồng - Đạo vợ chồng cư xử với nhau, trọng nhất là hai chữ hòa thuận. Tục có câu rằng: "thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn" nghĩa là có hòa thuận với nhau thì việc khó đến đâu, cũng làm nên được. Người chồng lại trọng nhứt là phải giữ nghĩa với vợ, mà vợ thì phải giữ tiết với chồng.

Nghĩa vụ của người vợ - Ngưòi vợ trên phải phụng dưỡng cha mẹ chồng, có khi phải nuôi cả chồng; giữa thì giúp chồng lo lắng công kia việc khác, gánh vác giang sơn cho nhà chồng; dưối thì săn sóc nuôi con, thế mới gọi là nội trợ.

Tứ đức - Lại phải đủ tứ đức mới gọi là hiền. Tứ đức là: Phụ dung, phụ công, phụ ngôn, phụ hạnh.
Phụ dung là dáng người đàn bà, dáng phải chính đính hòa nhã, nhưng cũng phải chải chuốt cho gọn gàng sạch sẽ.
Phụ công là nghề khéo của ngưòi đàn bà, nghề khéo thì chẳng qua trong việc vá may thêu dệt, và biết buôn bán mà thôi, ai giỏi nữa thì biết đủ các việc cầm kỹ thi họa là cùng.
Phụ ngôn là lời ăn tiếng nói của người đàn bà, ăn nói phải khoan thai, dịu dàng; đừng câu cẩu mà cũng đừng the thé, quí hồ mềm mỏng cho ai cũng dễ nghe.
Phụ hạnh là nết na người đàn bà, nết na thì đến trên kính, dưới nhường, ở trong nhà chiều chồng thương con, và lấy nết hiền hậu mà ở với anh em họ hàng nhà chồng. Ra ngoài thì nhu mì chín chắn, không hợm hĩnh mà cũng không cay nghiệt với ai.
Ây là tứ đức, có đủ chừng ấy mới là người đáng khen.

Tam tòng - Đàn bà lại có nghĩa tam tòng nữa. Tam tòng là:
- Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.
Nghĩa là khi người đàn bà còn ở nhà thì theo cha mẹ, khi đã đi lấy chồng thì theo chồng, khi chồng mất rồi thì theo con.
Cho nên tục ta đi lấy chồng thì dù hay, dở, sông, chết thế nào cũng là người nhà chồng, chỉ nương nhò về chồng - con, chớ không nương nhờ ai được nữa. Cũng vì nghĩa ấy mà người đàn bà phải hết lòng hết sức lo cho chồng con, tức là lo cho mình.

Nghĩa vụ của người chồng - Nghĩa vụ của người chồng đối với vợ thì chỉ ở cho đúng đắn, biết thương yêu vợ, biết quý trọng vợ, nhất là có tài trí, khiến cho vợ được nương nhờ sung sướng là hơn cả.
Thứ nhì là vợ chồng đồng tâm hiệp lực, kẻ lo việc ngoài, người lo việc trong, cho việc gia đình chỉnh đốn đâu ra đấy, mà đừng để khổ sở vất vả riêng cho một mình vợ. Còn người quanh năm chí tối, chỉ trông cậy về vợ thì gọi là người hèn.

Quyền người chổng - Tục ta trọng nam khinh nữ, quyền người chồng bao giờ cũng nặng hơn quyền vợ. Một là tiền của. Tiền của, của hai vợ chồng làm ra, hoặc của người chồng hay là do người vợ làm ra, cũng gọi là của chồng cả. Có câu rằng: "Trai tay không chẳng ăn mày vợ, gái trăm vạn củng thể nhờ chồng”.
Hai là việc giao thiệp. Ta chỉ người đàn ông có quyền giao thiệp với người ngoài, chớ đàn bà thì không được dự gì đến việc nọ việc kia cả. Cho nên từ trong họ, đến ngoài làng, cho đến việc tiếp khách, các việc ứng tiếp với xã hội, cũng không việc gì dự đến đàn bà. Ta vì tục ấy mà đàn bà ít kiến thức, tựa như một phần người vô dụng ở đời.
Ba là quyền tự do. Ta chỉ người đàn ông được tự do, nghĩa là muổn chơi bời gì thì chơi, muốn đi lại đâu thì đi lại, người vợ không có quyền ngăn cấm được, mà vợ hơi có điều gì trái gia pháp thì chồng có thể chửi được. Chồng có thể lấy năm, bảy vợ, mà vợ chỉ được phép lấy một chồng.
Có câu rằng: "Tài trai lấy năm lấy bảy, gái chính chuyên chỉ có một chồng”. Đây là nói đại khái, chớ quyền gì thì chồng cũng hơn.
Thất xuất - Đàn bà ở với chồng, bảy điều nên phải đuổi gọi là thất xuất:
1-   Không con;
2   - Dâm dật;
3   - Không thờ cha mẹ chồng;
4   - Lắm điểu:
5   - Trộm cắp;
6   - Ghen tuông;
7   - Có ác tật.
Đàn bà lấy chồng, trọng nhất là việc nối dõi tông đường, không có con thì chồng phải lấy vợ khác, cho nên phải bỏ. Dâm dật là một nết hư. Không thờ phụng được cha mẹ chồng là bất hiếu. Lắm điều thì chua ngoa khó chịu. Trộm cắp thì là có tính gian phi. Ghen tuông thì mất tính hiền hậu. Có ác tật thì không đương nổi việc nhà, và e truyền nhiễm cho ngưòi trong nhà chồng chăng.
Các điều ấy cũng khó dung, cho nên phải đuổi.

Tam bất khả xuất - Trong phép có ba điều không được đuổi:
1   - Đàn bà từng để tang 3 năm nhà chồng,
2   - Trưốc nghèo sau giàu.
3   - Ở nhà chồng thì được mà về nhà mình thì không có chỗ nào nương tựa.
Đàn bà để tang cha mẹ chồng ba năm là đã giúp chồng trong sự báo hiếu rồi, ấy cũng là có công vổi chồng, nếu bỏ thì chẳng những bạc tình, mà lại là ngưòi bất hiếu với cha mẹ nữa. Trước mới lấy nhau thì nghèo, mà sau rồi mổi giàu có, thì là đường sinh ý cũng có nhờ giúp đỡ mới nên. Nếu bỏ đi thì là ngưòi phụ công. Đàn bà chỉ nhờ chồng con và nhờ cha mẹ được thôi. Nếu cha mẹ ngưòi vợ mất rồi mà đuổi đi thì người ta nương nhờ vào đâu, thế là bất nghĩa, cho nên không đuổi.
   
Cái đạo vợ chồng, cũng là một mốĩ cương thường rất hệ trọng trong ngũ luân, ơ với nhau mà biết thương yêu nhau, quí trọng nhau, thì rất là phải đạo lắm. Nhưng tục ta trọng Nam khinh Nữ thì là một tục trái hẳn với cách văn minh.
Sao vậy? Tạo hóa sinh ra có trai thì phải có gái, có người coi việc ngoài thì phải có người coi việc trong, người cứng gân khỏe thịt thì phải làm việc nặng nề, người yếu chân mềm tay thì đã có việc nhẹ nhàng, chẳng qua cũng là giúp lẫn nhau thì mới được công này việc nọ, chớ thiếu một bề nào cũng không được, vậy thì công việc của đàn bà có kém gì công việc của đàn ông đâu? Vả lại tròi sinh ra ngưòi đàn bà cái màu hoa bóng bẩy kia, có thể vui vẻ cho ta những khi bực dọc; cái giọng oanh thỏ thẻ kia, có thể khuây giải cho ta những lúc buồn rầu. Lúc ruột gan ta nóng nảy bồn chồn nhờ có đôi mắt thu ba làm cho ta được dịu êm mát mẻ, khi tinh thần ta lo nghĩ mỏi mệt, nhờ có hai vừng đào kiểm làm cho ta được khoan khoái thư nhàn. Vậy thì chẳng những là nên thương cái phận người yếu đuôi, mà lại nên kính nên trọng nữa.
Cho nên cứ lấy đạo công bình mà nói thì đáng lẽ quí đàn bà hơn đàn ông mới phải, chớ nên cậy mình khỏe mạnh mà khinh bỉ đàn bà, mà ức chế đàn bà. Tục ngữ Âu châu có câu rằng: "On ne doit pas battre les femmes même aves des fleurs", nghĩa là dẫu cái hoa cũng không nên dùng mà đánh đàn bà. Câu ấy gẫm ra có lý thú lắm.
Tục ta thì phần nhiều áp chế đàn bà quá. Có người coi vợ như kẻ ăn người ở, nào là bắí sửa túi nâng khăn, nào là bắt cơm dâng nước tiến, nào là bê hành bẻ tỏi, nào là bắt nhặt, bắt khoan. Chồng ăn chơi như phá thì không sao, vợ xỉnh ra một chút đã sinh ra ỏm tỏi, chồng chim chuột như quỷ thì chẳng hề gì, vợ động đi đâu một lúc đã sinh ra ngờ vực, ấy là điều trái với đạo công bằng.
Tục ta buộc cho đàn bà một chữ trinh mới lại nghiệt nữa. Đã đành rằng trinh tiết là một nết rất quí ở Á Đông ta, không có thể sao bỏ được, nhưng chữ trinh với chồng cốt ở trong bụng, chứ giữ gìn từng tí thì tựa như đàn ông quá khắc. Tục Âu châu, vợ chồng thủ tín với nhau thì thôi, ngoài ra dẫu dắt tay nhảy đầm với kẻ khác cũng chẳng sao, dẫu ngồi tiếp chuyện với khách, bắt tay với khách cũng chẳng sao. Ta thì kỹ kiêng quá: nào ngồi nói chuyện với đàn ông cũng kiêng, đụng tay vào đàn ông cũng kiêng, đến cả vợ chồng đi với nhau ở ngoài đưòng cũng kiêng nốt. Sao mà kỹ kiêng quá thế? Mà người đàn bà đã hư, dẫu kiêng thê nào cũng hư, thì kiêng có ích gì đâu. vả lại một bước không dám ra đến ngoài, một người lạ không dám đáp chuyện, thì sao cho rộng kiến văn mà giúp chồng nên việc lớn được? Đàn bà con gái nước ta, ít người tài trí anh hùng như các nước, cũng có lẽ vì câu nệ nghĩa chữ trinh quá nữa.
Đến như trong tội thất xuất, thì lại có mấy điều lạ lùng! ừ, như tội dâm dật, cứ theo luân lý ta thì không thể nào thứ được. Tội bất hiếu, phạm vào đạo luân thường, tội trộm cắp, phạm phải thói gian phi, các tội ấy thì bỏ đi cũng còn có lẽ phải. Còn như tội không có con, chẳng qua bởi khí huyết, hoặc bởi tại đâu, người đàn bà có làm sao được; lắm điều, ghen tuông, thì là thói thường của đàn bà, có không thể chịu được thì lựa lời uốn nắn dần dần cũng phải được, sao nỡ vì một lỗi nhỏ mà tuyệt tình ân nghĩa? Còn tội có ác tật là một sự bất hạnh của đàn bà, chớ nào ai muốn. Nên phải hết lòng thuốc men cho người ta, nếu chữa không được mà sợ truyền nhiễm thì nên kiếm cách giữ gìn, chớ nỡ nào bỏ người ta cầu vơ cầu vất. Thế mà bỏ đi thì là quá khắc! Tưởng Thánh hiền đòi xưa, chắc có gì một cớ riêng gì nữa chăng?
Tuy vậy, có tội thất xuất, lại có ba điều bất khả xuất thì lại là một lòng rất trung hậu.
Nói tóm lại thì đàn ông chớ nên khinh bỉ đàn bà, chớ nên tranh hết quyền đàn bà, và chớ nên dùng cách áp chế mà ngược đãi đàn bà. Song nghĩa vụ của đàn ông đốì với đàn bà thì như thế, mà nghĩa vụ của đàn bà đối với đàn ông thì cũng phải kính trọng chồng, phải một lòng một dạ mà lo công việc nhà chồng, phải giữ gìn cái danh trong sạch để đừng phụ tấm lòng thương yêu của chồng. Chớ nên lấy nê rằng mình là người của chồng đáng quí đáng mến, mà bè nheo làm rầy chồng, hoặc say đắm đường ăn chơi, làm hại của nhà chồng hoặc mắng chó chửi mèo, nói chồng chẳng ra gì, thấy chồng yêu xỏ chân lỗ mũi, lại không trách chồng là phàm phu được.
Sách có chữ rằng: "phu phụ tương kính như tân" nghĩa là vợ chồng kính trọng nhau như khách. Lại có câu rằng: ''phu phụ hòa nhi hậu gia đạo thành" nghĩa là vợ chồng có hòa thuận thì mới nên gia đạo. Hai câu ấy đủ làm gương cho trong đạo vợ chồng.


- Trong Gia Tộc Phần . 01
- Trong Gia Tộc Phần 02
http://huynhhuuduc.blogspot.com/2014/12/viet-nam-phong-tuc-trong-gia-toc-phan-02.html
- Trong Gia Tộc Phần 03
- Trong Gia Tộc Phần 05
http://huynhhuuduc.blogspot.com/2014/12/viet-nam-phong-tuc-trong-gia-toc-phan-5.html