Thứ Hai, 5 tháng 11, 2018
Nhớ Tình Xưa
Xướng: Nhớ Tình Xưa
Chỉ lén thầm thương tại quá nghèo
Sợ nàng chế nhạo dám trèo leo
Thường khi bị chộ cù lần lửa
Có lúc cười chê trái mắt mèo
Ngó mãi tàu bông mà biết tủi
Ngồi sau bụi chuối để dòm theo
Ngày kia sét nổ trời u ám
Bật ngửa tin về ẻm chết queo!
Cao Linh Tử
28/9/2018
***
Các Bài Họa:
Bẫy Tình
Có lắm cô em muốn thoát nghèo
Can tâm làm phận nhánh dây leo
Nhí nha nhí nhảnh trò đùa khỉ
Lấp ló lấp la móng vuốt mèo
Ẹo tới ẹo lui..câu kẻ ngó
Lượn qua lượn lại...dụ người theo
Đại gia sập bẫy vài mươi bữa
Sực tỉnh...bỏ nàng héo quắt queo !
Phương Hà
***
Nhớ Người Xưa
Thầm thương vì bởi tía tui nghèo,
Hổng dám trèo đèo hổng dám leo.
Ngại xóm làng trêu thằng muốn vợ,
Sợ bà con chộ nó o mèo.
Nhà nghèo ít học người xa lánh,
Lính tráng ba đồng ai dám theo.
Già kén kẹn hom làm gái lão,
Băm lăm bốn chục vẫn chèo queo !
Đỗ Chiêu Đức
***
Tủi Thân
Hai mươi tuổi lẻ bị chê nghèo
Ngấp nghé cô hàng xóm giậu leo
Bố mẹ giàu sang nhà có chó
Gia đình khá giả họ nuôi mèo
Cùn đinh tay trắng đành nhìn lén
Trọc phú xe hoa ngại ngó theo
Ôm hận buồn tình nên ở giá
Tủi thân xót phận tối nằm queo!
Mai Xuân Thanh
Ngày 29/09/2018
***
Lối Vào Đường Tình
Buồn tình ngã ghế ngủ chèo queo
Nàng khước từ ta bởi đói nghèo
Có kẻ chê bai rằng hám của
Lại người châm chọc bảo ham leo
Khôn ngăn tình cảm...yêu chân thật
Khó cản bàn chân...quyết bám theo
Chẳng biết phận mình nên ngã ngựa
Đáng đời cái tính...thích o mèo
songquang
***
Ngại Gì Chớ!
Đã thương sao nghĩ chuyện giàu nghèo
Gai quít chanh dù nhọn cũng leo
Cố vượt vũ môn bền ý chép
Đạp lên số phận tỏ thân mèo
Cơ hàn đâu hẳn mình thua cuộc
Phú quý chắc gì ẻm chịu theo
Quan trọng hay không là cái miệng
Miễn sao cái lưỡi khéo cong queo.
Quên Đi
***
Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018
Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2018
Đất PN Từ Đất Phiên Trấn Đến Tỉnh Gia Định P8
Gia Định Qua Các Triều Đại Nam Triều:
Tính từ năm 1698 đến ngày nay, Gia Định đã trải qua rất nhiều lần thay đổi với biết bao thăng trầm cùng những danh xưng hành chánh khác nhau:
(I) Năm 1698: Phiên Trấn Dinh, Phủ Gia Định. Huyện Tân Bình, phần đất Sài Gòn bây giờ.
(II)Dưới thời Tây Sơn có tổng cộng 4 vị quan trấn thủ thành Gia Định:
1) Đỗ Nhàn Trập.
2) Đặng văn Chơn.
3) Nguyễn Lữ
4) Phạm văn Tham.
(IV)Dưới thời nhà Nguyễn: Từ thời Gia Long đến giữa đời Tự Đức, Gia Định có 6 đời Tổng Trấn hay Tổng Đốc:
(A) Dưới thời Gia Long (1802-1820): Kinh Gia Định được đổi làm Thành Gia Định với những vị Tổng trấn và phó tổng trấn sau đây:
1) Kinh Môn Quận Công Nguyễn văn Nhơn từ năm 1801 đến năm 1811 (có sách ghi từ 1801 đến 1805, nhưng ghi như vậy thì lại có khoảng trống 6 năm không có Tổng trấn).
2) Chưởng Cơ Tả Quân Lê văn Duyệt từ năm 1812 đến 1815. Lúc đó Trương Tấn Bửu làm phó tổng trấn và Ngô nhân Tịnh làm Hiệp Tổng Trấn.
3) Kiến Xương Quận Công Nguyễn Huy Đức từ năm 1816 đến năm 1819. Lúc đó Trịnh Hoài Đức làm Hiệp Tổng Trấn(34).
(B) Dưới thời Minh Mạng (1820-1840):
1) Năm 1820, vua Minh Mạng bổ nhiệm Tả Quân Lê văn Duyệt làm Tổng Trấn và Trương Tấn Bửu làm Hiệp Tổng Trấn (phó tổng trấn) từ năm 1820 đến khi Lê văn Duyệt qua đời vào năm 1832
2) Năm 1832: Sau khi Lê văn Duyệt qua đời, vua Minh Mạng bãi bỏ thành Gia Định và chia miền Nam ra làm 6 trấn. Lúc nầy Gia Định trở thành trấn Phiên An. Nguyễn văn Quế làm Tổng Đốc An Biên (hai trấn Phiên An và Biên Hòa) từ năm 1833 đến năm 1834. Sau đó, Hộ Đốc Võ Duy Ninh từ năm 1834 đến năm 1859.
3) Năm 1836: Minh Mạng cho đổi tất cả các trấn ở Nam Kỳ ra làm tỉnh và trấn Gia Định thành tỉnh Gia Định.
(C) Dưới thời Thiệu Trị (1841-1847): Không thay đổi hành chánh ở Nam Kỳ.
(D) Dưới thời Tự Đức (1820-1840): Không thay đổi hành chánh ở Nam Kỳ. (V)Nam Kỳ Dưới thời Pháp Thuộc (1861-1945):
1) Năm 1871: Khu Hành Chánh Sài Gòn do quan Tham Biện cai quản.
2) Năm 1885: Tỉnh Gia Định do một tỉnh trưởng người Pháp cai trị. Gia Định đã chứng kiến biết bao những thăng trầm lịch sử của cả xứ Nam Kỳ lẫn đất nước Việt Nam.
Tỉnh Gia Định Thời Pháp Thuộc:
Sau khi hoàn tất cuộc cưỡng chiếm chiếm Nam Kỳ, vào năm 1876, người Pháp chia miền Nam thành ra 4 khu vực hành chánh, mỗi khu vực lại chia làm nhiều địa hạt. Khu vực Sài Gòn gồm 5 hạt: Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa và Gia Định. Khu vực Mỹ Tho gồm 4 hạt: Mỹ Tho, Gò Công, Tân An, và Chợ Lớn. Khu vực Vĩnh Long gồm 4 địa hạt: Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, và Sa Đéc. Khu vực Bassac gồm 6 địa hạt: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Cần Thơ và Sóc Trăng. Riêng 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, họ cắt bớt đất của tỉnh Gia Định để thành lập tỉnh Chợ Lớn và Long An, nên lúc ấy Gia Định chỉ còn lại bốn quận: Gò Vấp, Thủ Đức, Hóc Môn và Nhà Bè, với 17 tổng và 166 xã. Năm 1899, Pháp cắt đất Gia Định cũ ra làm 5 tỉnh: Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Tây Ninh, và Gò Công. Vào năm 1944, vì lý do an ninh lãnh thổ, Pháp cho cắt một phần đất của Chợ Lớn và một phần của tỉnh Gia Định để thành lập tỉnh Tân Bình. Như vậy, dưới thời Pháp thuộc, tỉnh Gia Định dưới thời Minh Mạng bị cắt ra làm 5 tỉnh. Từ năm 1862 đến năm 1899, mỗi tỉnh có một quan Tham Biện cai quản. Sau năm 1899, Pháp đổi chức Tham Biện ra Tỉnh Trưởng:
1) Gia Định: Ngay khi chiếm 3 tỉnh miền Đông vào năm 1859, Pháp đã lấy phần đất trên khu thành Gia Định cũ để thành lập khu Hành Chánh Gia Định, về sau nầy trở thành tỉnh Gia Định.
2) Chợ Lớn: Năm 1876, Pháp lấy 2 huyện Tân Long thuộc phủ Tân Bình và huyện Phước Lộc thuộc phủ Tân An để thành lập tỉnh Chợ Lớn. Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa (1956), tỉnh Chợ Lớn được sáp nhập với tỉnh Tân An và đổi thành tỉnh Long An(63).
3) Tây Ninh: Năm 1859, Pháp lấy 2 huyện Tân Ninh và Quang Hóa, dưới thời Nam triều, để thành lập tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên, vào năm 1861, 2 huyện nầy được cai quản bằng 2 đoàn quân sự, một đặt tại Trảng Bàng và một đặt tại Tây Ninh. Đến năm 1868, hai đoàn quân sự nầy được thay thế bằng hai ty hành chánh.
Tỉnh Gia Định Thời Việt Nam Cộng Hòa:
Di Tích Lăng Mộ Các Quan Đàng Cựu Trên Vùng Đất Gia Định:
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, vùng đất Gia Định là cái nôi của cuộc Nam Tiến, là nơi hội tụ rất nhiều di tích lịch sử liên hệ tới các chúa nhà Nguyễn cũng như tín ngưỡng của những cư dân đến đây đầu tiên. Trong số những di tích lịch sử nầy, Lăng Ông là một trong những lăng miếu được dân chúng tôn kính cho đến ngày nay. Lăng Ông(78) được xây dựng trên một khoảng đất rộng ở khu phía nam xã Bình Hòa, cũng là khu phía Nam của tỉnh Gia Định. Chung quanh được bao bọc bởi 4 bức tường thấp, có 4 cửa thông ra đường: cửa đông thông ra đường Trịnh Hoài Đức, cửa bắc thông ra đại lộ Chi Lăng, cửa tây thông ra đường Lê văn Duyệt, và cửa nam thông ra đường Châu văn Tiếp. Cửa Nam là cửa chính vào lăng. Cổng lăng được xây dựng theo kiểu ‘Tam Quan’ có mái cong và mỗi cửa chồng hai mái. Ở hai bên cửa về phía trong, có hai cái đỉnh lớn, cao hơn bờ tường. Đền và lăng chiếm khoảng một phần tư khu đất, chia làm hai khu, khu trước là lăng, trong đó có hai ngôi mộ của quan Tả Quân và bà vợ. Ngoài bình phong có đặt ba cái đỉnh lớn bằng xi măng, hai cái hình tròn và cái thứ ba có hình chữ nhật. Kế đó là những bồn cây được uốn cong hình phượng, hoặc kết thành những chiếc lọng màu xanh thẳm. Kế đó là một tấm bia, được dựng lên dưới thời vua Thành Thái (năm 1894). Sau khu lăng mộ là một khoảng sân có 5 cái đỉnh sành màu xanh trắng. Như vậy, từ bên ngoài vào tới đền có cả thảy 9 cái đỉnh (cửu đỉnh, biểu tượng của xã tắc dưới thời phong kiến). Bên trong cùng là ngôi đền, gồm điện chính, điện giữa và điện ngoài. Trong đền lúc nào cũng khói hương nghi ngút. Phải nói đất Gia Định là nơi qui tụ rất nhiều lăng tẩm và mộ của các quan đàng cựu nổi tiếng ở miền đất phương Nam. Ở ngoại ô vùng Phú Nhuận, bên trong đại lộ Võ di Nguy là lăng của Bình Giang Quận Công Võ di Nguy, một trong những khai quốc công thần đời Gia Long. Võ di Nguy làm tới chức Thiếu Bảo với nhiệm vụ thống suất Hải Quân và tử trận vào năm 1801 tại đầm Thị Nại, Qui Nhơn. Trên vùng đất Gia Định còn có lăng của quan Khâm Sai Chưởng Cơ Nguyễn văn Học. Ông tên thật là Trần văn Học, được Gia Long cho mang quốc tính. Ông đã theo phò Nguyễn Ánh từ năm 1780. Năm 1782, chính ông đã hộ tống gia quyến Nguyễn Ánh ra đảo Thổ Châu. Năm 1790, ông lãnh lệnh Nguyễn Ánh xây Kinh Gia Định. Ban đầu lăng của ông tọa lạc phía sau Ty Ngân Khố Gia Định, đến năm 1930 được cải táng về nơi vườn hoa bên cạnh Ty Thanh Niên Gia Định. Tại vùng Phú Nhuận, trên đường Tự Đức còn có lăng của Phó Tổng Trấn Gia Định Trương Tấn Bửu, người đã theo phò Nguyễn Ánh trong thời còn bôn tẩu trốn nghĩa binh Tây Sơn. Cũng trong vùng Phú Nhuận còn có lăng và đền thờ tro cốt của Quận Công Võ Tánh, người đã theo Nguyễn Ánh từ khi vị chúa nầy còn bôn tẩu lẩn trốn nghĩa binh Tây Sơn. Năm 1801, ông và Ngô tùng Châu bị quân Tây Sơn vây hãm trong thành Qui Nhơn, nên cả hai đều tử tiết theo thành. Ngoài ra, trong vùng xã Tân Sơn Hòa còn có lăng của quan Tả Dinh Lê văn Phong(79), em ruột của đức Tả Quân Lê văn Duyệt. Trong vùng Phú Lâm vẫn còn ngôi mộ của tướng Đỗ Thành Nhân(80), một trong tam hùng đất Gia Định, theo phò Nguyễn Ánh trong lúc vị chúa nầy đang cơn hoạn nạn, đến khi thanh thế vững vàng thì chính Nguyễn Ánh đã giết vị tướng nầy chỉ vì những lời dèm pha ganh ghét của người khác.
Để tiện theo dõi "Đất Phương Nam 1", kính mời Quí Độc Giả mở Link bên dưới:https://huynhhuuduc.blogspot.com/p/blog-page_53.htm
Thứ Năm, 1 tháng 11, 2018
Anh Chợt Biết
Quên Đi
***
Thứ Tư, 31 tháng 10, 2018
Thơ Tự Do
Sau khi thơ mới thoát khỏi thất ngôn , ngũ ngôn , lục bát , đem một sinh khí mới cho thơ ! Sau 1954 người ta nói tới một thứ thơ mới hơn (!) người ta gọi là thơ “ Tự Do “ . Thực ra thì thơ mới vẫn theo vần điệu . Đa số vẫn là Thất Ngôn ! Số lượng nhiều hơn , có cái mới là nhiều khổ ( mỗi khổ 4 câu ) . Trước đó cũng có khi nhiều khổ ( Trường thiên , hoặc thất ngôn hoặc song thất lục bát … như Tỳ bà hành … ) Hai bài tuyệt tác , rất mới là Màu Thời Gian , Tống Biệt Hành đã làm một cuộc bứt phá đẻ đi tìm Tự Do !!!
Thơ Tự Do đã làm loạn Thi Đàn , rất nhiều người khen chê từ khoảng 1954 .
Miền Bắc có Hữu Loan , Trần Dần , Phùng Quán , Hoàng Cầm . Miền Nam có Quách Thoại , Thanh Tâm Tuyền
Kịch thơ Kiều Loan của Hoàng Cầm , tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc của Thanh Tâm Tuyền là những trái Bom Tấn !!!
Tinh thần mê tự do của Hoàng Cầm , Quách Thoại đà khiến những bài thơ của các ông có một không khí tự do tuyệt vời !
Những bài thơ trúc trắc , gắt gỏng , gào thét tôi bỏ vào rọ Thơ Tự Do vì tôi rất thích cái nổi loạn , gào thét của nó như :
Máy điện giục gầm gừ
Chuông đạo réo vô tư
Kẻng tù khua gắt gỏng
( Nghĩa Đời Trong Ba Tiếng )
hoặc :
….. Và hồi lâu trước ngưỡng cửa song tù
Tôi còn nghe tiếng nói của Châu Ro
Đau cái bụng ! Ui Chu Choa ! Tức lắm !
…..
hoặc :
Đã đứng lên những con người uất ức
Những thế hệ nuốt oan hờn giữa ngực
Đã đứng lên những chiến sĩ những anh hùng
Những gươm thiêng giáo nhọn những gan đồng
Những dạ sắt đã đứng lên tất cả
…..
Lũ chúng bay loài bạc ác vô nhân
Xây sung sướng trên nhục nhằn kẻ khác
Lấy gian khổ của người làm cực lạc
Rượu mồ hôi nước mắt
Bánh xương tủy tim gan
Thịt nhân quần chúng mày vẫn uống ăn
…..
Còn rừng thiêng nước độc
Còn núi hiểm đèo cao
Còn cát khô đảo vắng biển sâu nào
Bay chẳng đọa những anh hùng chiến sĩ
Tôi không thích loại thơ “Tân Hình Thức “ gần đây vì nó ảnh hưởng quá nhiều của cái Tân Hình Thức Âu Mỹ ( nếu bạn nói là tối tăm , khó hiểu thì cũng được )
Tôi thích thơ nói lên khát vọng Tự Do của con người ! Hình như bài Liberte’ của ông J. Pre vert thì phải !
Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người coi Thanh Tâm Tuyền là cha đẻ của thơ Tự Do . Chính vì Quách Thoại , Thanh Tâm Tuyền nghênh ngang , lớn giọng đòi tự do sáng tạo . Những bài thơ của các ông như những Tuyên Ngôn của thơ tự do !
Tư tưởng , giòng câu chứa đựng vạn niềm tin
Bao tâm huyết đổ dồn lên y nghĩ
Thơm tho thay những y tình tề nhị
Nói cho cùng những cảm động ẩn trong lời
Tôi biết các anh những kẻ đã khóc cười
Là những kẻ còn tin yêu vững sống
Còn sang tạo các anh hãy còn sáng tạo
Mặt trời mọc !
Mặt trời mọc !
Rưng rưng mùa hoa gạo
Lỡ một mai tôi chết trần truồng không cơm áo
Thì hồn tôi xin phảng phất chốn trăng sao
Để nhìn các anh như vừa gặp buổi hôm nào
Và câu chuyện tôi sẽ cười nhắc bảo
Còn sáng tạo ta hãy còn sáng tạo
Quách Thoại
Bài thơ Trăng Thiếu Phụ của Quách Thoại biểu tả một tâm hồn yêu tự do , nhưng không ngủ và muốn :
Gửi cả lên trăng tiếng thở dài
Bài thơ Gửi Quách Thoại đúng là một “ Thông Điệp “ gửi đi , xác định rằng Tự Do sẽ thắng
Mây đục đậu lên bờ cửa sổ
Người nằm ôm chăn mỏng nhớ đời
Bệnh viện thành công viên khuất nẻo
Người ngủ một mình đợi chúng tôi
Trời cao , trời cao xin xanh biếc
Hơi thở rất tròn như vành môi
Không trách chúng tôi nhiều quên lãng
Cửa ngoài chưa thỏa vút tiếng cười
Còn thương những kẻ đau rỏ máu
Những chuyện hôm qua chuyện núi đồi
Mai kia than thể hoang từng mảnh
Nằm đây rồi cũng rõi mây trôi
Thoại ơi ! Thoại ơi ! Không biết khóc
Những giòng nước mắt ướt mặn môi
Không chết trần truồng không thể được
Chúng tôi đập vỡ những hình hài
Xin trao thi sĩ vòng hoa tặng
Chúng ta đã thắng giữa cuộc đời
T.T.T.
( Quách Thoại nhất quyết chết trần truồng . Bạn bè mặc quần áo cho ông , khi bạn đi khỏi , ông lại cởi hết !!! )
Tuyên Ngôn của nhóm Sáng Tạo là yêu Tự Do . Dĩ nhiên họ cũng ghét những kẻ ghét tư do :
Tên tôi là Phạm văn Thông
Tôi không ! Tôi không ! Tôi không !
Kệ xác nó
Cứ nhận đầu chôn sống
T.T.T.
Nếu Sáng Tạo ra tuyên ngôn , thì nhiều người khác xây dựng Hiến Chương chống lừa dối , hèn hạ , tham nhũng , lãng phí …
Ai mà không thán phục Phùng Quán với lời hứa như đing đóng cột của ông : quyết trở thành nhà văn
Chân Chính
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
…..
Tôi muốn làm nhà thơ chân thật
Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá
Ai là không căm ghét những kẻ tham ô lãng phí :
….. Tôi đã đi qua
Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt
Tôi đã gặp
Những bà mẹ già quấn giẻ rách
Da đen như củi cháy giữa rừng
….. Tôi đã gặp
Những cô gái…
Hai mươi ? Ba mươi ?
Tôi không nhìn ra nữa
….. Tôi đã gặp
Những đứa em còm cõi
Lên năm lên sáu tuổi đầu
Cơm thòm thèm độn cám với rau
……..
Tôi muốn đúc thơ thành đạn
Bắn vào tim những kẻ làm càn
Những con người tiêu máu của dân
Như tiêu giấy bạc giả …
Phùng Quán
Ai là không căm ghét những kẻ nịnh hót , thì khi đọc “ Cũng Những Thằng Nịnh Hót “ của Hữu Loan sẽ thấy … đã liền :
….. Dạ Dạ Anh Anh
Dạ Dạ Em Em
Hít thượng cấp
Cứ thơm như múi mít
……
Nếu trong thơ Hữu Loan có hình ảnh dung tục ( tục ngữ Bắc Kỳ có câu : L…thơm như mít , đít thơm như cam ) thì Nguyễn Duy không ngại dùng cả tiếng Đan Mạch ( Đ .M. = tiếng Đan Mạch ) Đến Bùi Chí Vinh thì nghệ thuật dùng chữ đã lên đến đỉnh tuyệt vời !
Rất nhiều bài thơ của ông vẫn có vần, nhưng hồn con chữ của ông đã nhẩy ra ngoài vần ! Hết đọc truyện Liêu Trai nửa đêm , đến lên Đà Lạt : Vén sương mù cổ tích coi chơi … đến … Chạm Ngõ :
Hai người lớn gặp mặt nhau
Vậy là con trẻ qua cầu gió bay
Áo tình anh giữ trong tay
Bỏ công em cởi từ ngày còn thơ
Chữ nghĩa của Bút Tre cũng nhẩy lung tung nhưng không bằng Bùi Chí Vinh .
Bút tre móc túi ra được 14 chữ , bèn xếp trên sáu dưới tám cho thành câu thơ lục bát tự do
Anh đi công tác Pơ Lê
Cu dài dằng dặc biết ngày nào ra
Con chữ của Bùi Chí Vinh nhẩy nhót điệu nghệ hơn ( có trời mà biết nó nhẩy điệu gì ) chỉ biết rằng Lạ Lắm … Lạ Lắm ! Cả ngàn bài thơ của Bùi Chí Vinh Lạ Lắm … Lạ Lắm !
Cái lạ của Bút Tre và Bùi Chí Vinh không sánh được với Bùi Giáng ! Hẳn nhiên rồi ! vì Bùi Giáng là Thi Tiên , Thi Thánh , Thi Phật :
Em về giũ áo mù sa
Trút quần phong nhụy cho tà huy bay
Có mà điên mới giở giọng phê bình thơ Bùi Giáng !
Dù sao thì sao , cái lạ lùng , quá đẹp , quá hấp dẫn , trên cả tuyệt vời của Bùi Chí Vinh làm tôi choáng váng , quỳ xuống , hôn lên từng chữ từng câu
SINH NGHI HÀNH
Sinh nghi ta viết một bài hành
Vợ nghi chồng em út nghi anh
Cha nghi con cái bè nghi bạn
Thủ Trưởng thì nghi hết ban nghành
……..
Thời buổi công hầu như chén cứt
Thiếu chó mèo ăn cũng rất nhanh
Mèo ăn cho chó leo bàn độc
……….
Thúy Kiều phát triển nhiều như thế
Thảo nào đất nước hóa lầu xanh
Nhà tù phát triển nhiều như thế
Kẻ sĩ làm sao dám học hành
Ta làm thơ mà lòng đứt ruột
Suốt đời bao tử chạy loanh quanh
Ồ !
Hậu sinh khả úy !
Những chàng trai trẻ , rất trẻ lập nhóm Mở Miệng ! Làm thơ Rác ! thơ Nghĩa Địa ! … in những bài thơ ở nhà xuất bản Giấy Vụn !!!
Các chàng đã ra chiêu đầy sức sống ! Đầy suy tư ! Thật là những Chiêu Thức Bậc Thầy :
LUỘC
Món 1 : Luộc
Theo kiểu rau muống luộc của Bắc Kỳ
Sống ở VN ăn rau muống luộc là tốt nhất
Chưa tìm thấy thứ gì mà người Việt không thể luộc
Vậy nên
Sống ở VN ăn món luộc là tốt nhất
Từ luộc xe Honda, nhà đất , bằng cấp , chức tước
Từ luộc vệ sinh , an toàn thực phẩm , bảo hiểm
Từ luộc trí tuệ , thẩm mỹ , văn hóa , nhân tính
Chưa tìm thấy điều gì mà VN không thể luộc
Vậy nên
Sống ở VN ăn món luộc là tốt nhất
Từ luộc cho đến luộc
Nhà nhà tham gia luộc
Ngành ngành thi đua luộc
Duy chỉ có lí do tại sao mình bị luộc là không bị luộc
Vậy nên
Sống ở VN luộc là tốt nhất
Luộc là tốt nhất
……………….
Lí Đợi
RỒI TÔI
Rồi tôi nhận ra tiếng nói từ bầy súc vật
Mơ hành vi của những con người
Tổ Quốc !
Chúng ta vĩnh viễn không được tự ruồng bỏ
Bởi suy nghĩ hẹp hòi của chúng ta
Thế giới cũng vút lên từ bước chân mòn
Với một niềm tin ở dưới gót
Tôi chiêm bao thấy đứa con sắp lọt lòng củ tôi nhắn nhủ
Tổ quốc ta như một con mèo
Tiếng chào đời con gọi meo meo
Bùi Chát
ĐÈN ĐỎ
Tôi đứng trước một ngã tư
Đèn đỏ ngăn tôi lại
Những dòng người ra đi tất bật
Gió mát sau lưng họ
Chúng tôi , nhiều thế hệ
Bị giữ lại bởi đèn đỏ
Chúng tôi không cất bước được
Giao lộ ở khắp nơi
Không ai có thể vượt qua đèn đỏ
Chúng tôi đứng trước ngã tư
Nhiều thế hệ
Chỉ một con đường đầy bụi đỏ trước mặt
Bùi Chát
Chân Diện Mục
-------------------
(*) Góp ý Thêm
Nói đến thơ Tự Do, trước hết ta cần biết sơ về Thơ Mới.
Tại sao được gọi là Thơ Mới?
Vào Đời Đường, khi dạng Thơ Luật xuất hiện và phát triển rộng, mọi người đặt tên dạng này là thơ Tân Thể, và tất cả những dạng thơ trước đó gọi là Cổ Thể. Tương tự, ở Việt Nam ta, khi dạng thơ được Phan Khôi phát động và xuất hiện từ 1932 được gọi là thơ mới và các dạng thơ từ 1932 trở về trước là Thơ Cũ.
Theo quyển Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh:
"Thơ mới cũng có nhiều lối... thơ Tự Do chỉ là một phần trong đó..."
Thơ Mới đã phá bỏ nhiều khuôn phép của Thơ Cũ, có câu nhiều hơn 10 chữ, các câu trong bài thơ không đều, hoặc là trong câu thơ có nhiều câu thừa như dạng văn xuôi: Ta là một khách chinh phu (Lời Chinh Phu của Thế Lữ). Ý cả câu này xét kỹ chỉ là 2 từ chinh phu, còn 4 chữ kia lại thừa. Trong khi thơ cũ : Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo. Không một chữ nào thừa.
Nhưng Thơ Mới vẫn gieo vần với nhau. Tuy nhiên, Thơ Mới cũng lưu giữ rất nhiều khuôn phép cũ, như các bài thơ 5 chữ, thơ 7 chữ...; phương pháp gieo vần yêu vận cũng như cước vận....
Một nhánh mới của Thơ Mới xuất hiện, phá bỏ cả những khuôn phép cũ về gieo vần. Nói rõ hơn là không cần hoặc gieo vần rất ít. Nhánh mới này được mọi người gọi là Thơ Tự Do...
Huỳnh Hữu Đức
Thứ Ba, 30 tháng 10, 2018
Xuất Tái (Lương Châu Từ) - Vương Chi Oán
出塞 (凉州词) Xuất Tái (Lương Châu Từ)
Trên núi cao muôn trượng có một mảnh thành cô độc
Tiếng sáo người Khương thổi chi khúc nhạc buồn Chiết Dương Liễu (*)
Gió xuân chẳng hề thổi tới ải Ngọc Môn.
(*) Chú thích: Khúc Chiết Dương Liễu thời xưa, phổ cho sáo, gợi nỗi buồn người đi chinh chiến hoặc kẻ xa nhà
Thứ Hai, 29 tháng 10, 2018
Hương Cau
Hương Cau
Trồng lại bên đường mấy tán cau
Vầng trăng lơ lửng sáng làu làu
Những đêm hoa trắng mùi bay thoảng
Bóng mẹ sân vàng chổi bó mau
Lam lủ nhà nông thường bắt nhịp
Xôn xao mặt nước mãi pha màu
Tâm hồn giản dị cùng cây cỏ
Một góc thanh bình với bóng cau.
Một góc thanh bình với bóng cau
Như bài ám độc thuộc cho làu
Trạch Lân Mạnh Mẫu ba thường kể
Lá chổi tàu mo má vẫn trau
Đến một ngày kia trời đổi mặt
Lá vàng trước ngõ cũng thay màu
Trăng treo lay lắc xưa còn nhớ
Trồng lại bên đường mấy tán cau.
Cao Linh Tử
21/9/2018
Chuyện Đời
Buồn tình phe phẩy quạt mo cau
Vinh nhục nào ai đã hiểu làu
Thấy đó xênh xang cười chẳng ngớt
Rồi đây xuôi xị khóc càng mau
Tai to bụng phệ đừng khoe dáng
Xuống chó tiêu danh mặt đổi màu
Được mất ở đời sao tránh khỏi
Coi chừng có lúc phải mày cau
Coi chừng có lúc phải mày cau
Văn hóa ngàn năm chẳng muốn làu
Cậy chức ỷ quyền suy xét lại
Đối nhân xử thế phải dồi trau
Điều hay hy vọng luôn tồn tại
Cái xấu mong rằng sẽ lụn mau
Đạo lý ông cha là mãi mãi
Rồi đây mày sẽ chẳng còn cau.
Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2018
Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2018
Đất PN Từ Đất Phiên Trấn Đến Tỉnh Gia Định P7
Năm 1802, sau khi lên ngôi, ban đầu vua Gia Long vẫn giữ nguyên sự phân bố hành chánh có sẵn từ trước với 3 dinh và 1 trấn là Biên Trấn dinh (Biên Hòa), Phiên Trấn dinh, và Gia Định cũng thuộc một phần của phủ Tân Bình cũ, Vĩnh Định, và Hà Tiên trấn.
Sau đó nhà vua cho đổi thành 5 trấn trong vùng Gia Định Thành(46). Dinh Phiên Trấn đất rộng và phì nhiêu mầu mỡ so với các vùng đất khác của xứ Đàng Trong thời bấy giờ. Phía Bắc giáp với Biên Trấn, phía trên từ sông Thủ Đức, đến sông Bến Nghé, chạy xuống sông Nhà Bè. Phía Nam giáp với Định Tường Trấn, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp Cao Miên. Lúc mới thành lập trấn nầy gọi là Dinh Phiên Trấn, có 1 huyện và 4 tổng, lỵ sở đóng tại thông Tân Lân, tổng Bình trị, huyện Bình Dương.
Năm 1832, sau khi Tả Quân Lê văn Duyệt từ trần, vua Minh Mạng bãi bỏ chức tổng trấn, và chia miền Nam ra làm 6 tỉnh trực thuộc triều đình(50): Gia Định (Phiên An), Biên Hòa (Biên Trấn), Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, và Hà Tiên. Mỗi tỉnh nhà vua đặt chức Tuần Phủ, Bố Chánh, Án Sát, và Lãnh Binh cai quản. Kể từ đó Gia Định chỉ còn là một trong 6 tỉnh của Nam Kỳ Lục Tỉnh mà thôi. Vua Minh Mạng lại cắt đặt Nguyễn văn Quế làm Tổng Đốc An Biên cai trị 2 tỉnh Phiên An và Biên Hòa. Riêng mỗi tỉnh có quan Bố Chánh và Án Sát. Bạch Xuân Nguyên và Nguyễn Chương Đạt là 2 vị quan Bố Chánh và Án Sát đầu tiên của tỉnh Gia Định. Đến năm 1833, Lê văn Khôi(51) nổi dậy chiếm thành Phiên An và chống lại triều đình suốt 3 năm liền. Năm 1835, sau khi dẹp xong vụ Lê văn Khôi, để quên đi nỗi nhục nhã cứ mãi ám ảnh, vua Minh Mạng cho đổi tỉnh Phiên An ra làm tỉnh Gia Định. Sau vụ Lê văn Khôi, vua Minh Mạng đã cho san bằng thành Gia Định, chỉ vì ông không muốn thấy một nỗi nhục đã để bị thành mất vào tay Lê văn Khôi trong suốt bốn năm ròng rã. Cùng năm 1835, tỉnh Phiên An được đổi làm tỉnh Gia Định. Như vậy, tên Gia Định được thay đi đổi lại trải qua nhiều thời kỳ (năm 1698, nó mang tên phủ Gia Định, từ năm 1790 đến năm 1802 nó mang tên Kinh Gia Định, năm 1832 là tỉnh Phiên An, và đến năm 1835 lại đổi thành tỉnh Gia Định). Năm 1836, vua Minh Mạng cử quan đại thần Trương Đăng Quế vào Nam kinh lý để tuyển lính và đo đạt đất đai nhằm thiết lập sổ đinh bạ và địa bạ cho các thôn xã tại vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh. Tỉnh thành Gia Định được đặt tại vùng Sài Gòn, gọi là tỉnh Phiên An. Năm 1837, vua Minh Mạng cho xây lại thành Gia Định trong thôn Nghĩa Hòa, huyện Bình Dương. Dân số Gia Định vào thời Gia Long có chừng khoảng 28.200 người, đến cuối đời Minh Mạng lên đến 32.800 người, thống kê trước năm 1975 Gia Định có khoảng 900.000 dân. Bây giờ thì không biết dân số hiện tại là bao nhiêu. Dưới thời Minh Mạng, các vùng bây giờ là Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Bình Dương, và một phần của Tân An đều thuộc về đất Gia Định. Ngày đó tất cả các chợ Bến Thành(52), chợ Bến Sỏi(53), chợ Tân Cảnh(54), chợ Điều Khiển(55), chợ Nguyễn Thức(56), chợ Thị Nghè, chợ Sài Gòn(57), vân vân, đều nằm trong phạm vi tỉnh Gia Định. Đất Gia Định xưa là nơi sản sanh chẳng những thi nhân mặc khách, mà còn sanh ra những võ tướng đã từng theo phò tá Gia Long như Võ Tánh, Phạm Đăng Hưng, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Tống Viết Phước, Trương Phúc Luật...
Năm 1836, vua Minh Mạng lại cho đổi tỉnh Phiên An ra làm tỉnh Gia Định, lỵ sở được đặt tại Sài Gòn. Thời đó, tỉnh Gia Định có 3 phủ gồm 7 huyện:
1) Phủ Tân Bình có 3 huyện là Bình Dương, Tân Long và Bình Long.
2) Phủ Tân An có 2 huyện là Thuận An và Phước Lộc.
3) Phủ Tây Ninh có 2 huyện là Tân Ninh và Quang Hóa. Huyện Tân Ninh đặt huyện lỵ tại vùng Tây Ninh bây giờ, và huyện Quang Hóa đặt huyện lỵ tại làm Cẩm Giang. Dinh Phiên Trấn vốn là thủ phủ của miền Nam vào thuở cha ông chúng ta mới mở cõi về phương Nam. Trải qua các triều đại, địa danh dinh Phiên Trấn đã từng thay đổi từ Phiên Trấn dinh, Phiên An trấn, Gia Định Thành và tỉnh Gia Định. Lịch sử mở cõi đất Gia Định gắn liền với lịch sử Nam Tiến của dân tộc Việt Nam, nên khi chúng ta nói về Gia Định là chúng ta đang nói về một địa danh mà tầm quan trọng của nó cũng không kém gì các địa danh Thăng Long (bây giờ là Hà Nội) và Thuận Hóa (bây giờ là Huế). Nếu Thăng Long là linh hồn của vùng đất thiêng Bắc Hà, và nếu Thuận Hóa là cố đô, là đất dựng cờ của dòng họ Nguyễn đi về phương Nam, thì Gia Định phải là địa linh của miền Nam. Địa danh nầy không còn đơn thuần chỉ nói đến tỉnh Gia Định ngày nay hay dinh Phiên Trấn ngày xưa, mà nó là biểu tượng, là linh hồn của vùng đất phương Nam. Nên chi khi chúng ta nói về Gia Định, chúng ta không đơn thuần nói về đất Đồng Nai, mà chúng ta còn có ý khơi dậy sức sống mãnh liệt của cha anh chúng ta thời mở cõi Đồng Nai-Cửu Long. Thời nầy tỉnh Gia Định trải dài theo bờ sông Sài Gòn trên chiều dài hơn 100 cây số từ ranh giới tỉnh Tây Ninh đến tận cửa biển Cần Giờ(58), phía Bắc giáp Sài Gòn và Biên Hòa, tại vùng mà bây giờ là Thủ Dầu Một, nam giáp Gò Công và Biển Đông, phía tây giáp Chợ Lớn, Long An, và Tây Ninh(59), và phía đông giáp Biên Hòa và Bà Rịa. Diện tích của tỉnh Gia Định (theo La Cochinchine năm 1921) là 180.000 mẫu Tây. Đất đai tỉnh Gia Định chia làm hai vùng rõ rệt: vùng thấp phù sa mầu mỡ dọc theo bờ sông Sài Gòn chạy ra đến biển, vùng này sản xuất lúa gạo cũng như thủy sản và hải sản, tuy nhiên hãy còn rất nhiều đầm lầy hoang vu gần biển chưa được khai khẩn; vùng cao là vùng đất pha cát nằm về phía bắc chạy dài đến Biên Hòa và Tây Ninh, vùng này chuyên sản xuất rau quả, thuốc lá, cau, dừa, tiêu, bắp, các loại đậu và mía làm đường để cung cấp cho nhu cầu của vùng Sài Gòn. Về phía đông bắc của Gia Định thời Pháp thuộc, hãy còn nhiều mảng rừng nhỏ trồng cao su. Gia Định là một trong những tỉnh kỳ cựu nhất của Nam Kỳ. Trước thời Nam Kỳ Lục Tỉnh thì Gia Định là thủ phủ của thành Phiên An.
Dưới thời Tự Đức, nhà vua đặc biệt để ý đến Gia Định sau những biến cố dồn dập cho miền đất nầy, từ lúc Lê văn Khôi đứng lên chiêu tập binh mã chống lại sự bạo ngược của triều đình Minh Mạng. Ngay từ khi quan Tả Quân Lê văn Duyệt không đồng ý với Gia Long trong việc phế chánh lập thứ(60), Minh Mạng đã đem dạ oán thù quan Tả Quân, nên ngay sau khi quan Tả Quân từ trần vào năm 1832, Minh Mạng đã cho xiềng mã của ngài với 8 chữ đề : “Quyền Yểm Lê văn Duyệt phục pháp xứ”, có nghĩa là nơi đây là chỗ quan hoạn lộng quyền Lê văn Duyệt chịu hình phạt theo phép nước. Bởi lẽ đó mà con nuôi của Lê văn Duyệt là Lê văn Khôi mới nổi lên bắt quan Bố Chánh Bạch Xuân Nguyên và chiếm cứ thành Gia Định. Năm 1851, vua Tự Đức cử Nguyễn Tri Phương vào Nam làm quan Kinh Lược Đại Sứ Nam Kỳ, có Phan Thanh Giản và Phạm Thế Hiển phụ tá. Ba vị nầy đã áp dụng chính sách khai khẩn đồn điền một cách khôn khéo đã khiến cho miền đất Gia Định khởi sắc hẳn lên, nhưng chưa được bao lâu thì giặc Pháp đã kéo đến xâm chiếm miền Nam. Ngày 2 tháng 2 năm 1859, Hải quân Trung tướng Pháp Rigault de Genouilly đã đem binh thuyền vào cửa Cần Giờ bắn phá các pháo đài hai bên bờ sông Đồng Nai, rồi đổ bộ lên đánh phá thành Gia Định. Với tất cả các bản đồ xây cất thành Gia Định trong tay, Rigault de Genouilly tiến chiếm thành Gia Định không mấy khó khăn, mặc dầu quân Nam đông hơn quân Pháp rất nhiều.
Để tiện theo dõi "Đất Phương Nam 1", kính mời Quí Độc Giả mở Link bên dưới:https://huynhhuuduc.blogspot.com/p/blog-page_53.html







