Thứ Hai, 5 tháng 11, 2018

Nhớ Tình Xưa


Xướng: Nhớ Tình Xưa

Chỉ lén thầm thương tại quá nghèo
Sợ nàng chế nhạo dám trèo leo
Thường khi bị chộ cù lần lửa
Có lúc cười chê trái mắt mèo
Ngó mãi tàu bông mà biết tủi
Ngồi sau bụi chuối để dòm theo
Ngày kia sét nổ trời u ám
Bật ngửa tin về ẻm chết queo!
                 Cao Linh Tử
                    28/9/2018
***
     Các Bài Họa:

            Bẫy Tình

Có lắm cô em muốn thoát nghèo
Can tâm làm phận nhánh dây leo
Nhí nha nhí nhảnh trò đùa khỉ
Lấp ló lấp la móng vuốt mèo
Ẹo tới ẹo lui..câu kẻ ngó
Lượn qua lượn lại...dụ người theo
Đại gia sập bẫy vài mươi bữa
Sực tỉnh...bỏ nàng héo quắt queo !
                           Phương Hà
***
          Nhớ Người Xưa

Thầm thương vì bởi tía tui nghèo,
Hổng dám trèo đèo hổng dám leo.
Ngại xóm làng trêu thằng muốn vợ,
Sợ bà con chộ nó o mèo.
Nhà nghèo ít học người xa lánh,
Lính tráng ba đồng ai dám theo.
Già kén kẹn hom làm gái lão,
Băm lăm bốn chục vẫn chèo queo !
                      Đỗ Chiêu Đức
***
          Tủi Thân

Hai mươi tuổi lẻ bị chê nghèo
Ngấp nghé cô hàng xóm giậu leo
Bố mẹ giàu sang nhà có chó
Gia đình khá giả họ nuôi mèo
Cùn đinh tay trắng đành nhìn lén
Trọc phú xe hoa ngại ngó theo
Ôm hận buồn tình nên ở giá
Tủi thân xót phận tối nằm queo!
                    Mai Xuân Thanh
                     Ngày 29/09/2018
***
     Lối Vào Đường Tình

Buồn tình ngã ghế ngủ chèo queo
Nàng khước từ ta bởi đói nghèo
Có kẻ chê bai rằng hám của
Lại người châm chọc bảo ham leo
Khôn ngăn tình cảm...yêu chân thật
Khó cản bàn chân...quyết bám theo
Chẳng biết phận mình nên ngã ngựa
Đáng đời cái tính...thích o mèo
                            songquang
***
             Ngại Gì Chớ!

Đã thương sao nghĩ chuyện giàu nghèo
Gai quít chanh dù nhọn cũng leo
Cố vượt vũ môn bền ý chép
Đạp lên số phận tỏ thân mèo
Cơ hàn đâu hẳn mình thua cuộc
Phú quý chắc gì ẻm chịu theo
Quan trọng hay không là cái miệng
Miễn sao cái lưỡi khéo cong queo.
                               Quên Đi
***

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2018

Đất PN Từ Đất Phiên Trấn Đến Tỉnh Gia Định P8


Gia Định Qua Các Triều Đại Nam Triều:

Tính từ năm 1698 đến ngày nay, Gia Định đã trải qua rất nhiều lần thay đổi với biết bao thăng trầm cùng những danh xưng hành chánh khác nhau:
(I) Năm 1698: Phiên Trấn Dinh, Phủ Gia Định. Huyện Tân Bình, phần đất Sài Gòn bây giờ.
(II)Dưới thời Tây Sơn có tổng cộng 4 vị quan trấn thủ thành Gia Định:
1) Đỗ Nhàn Trập.
2) Đặng văn Chơn.
3) Nguyễn Lữ
4) Phạm văn Tham.
(III)Năm 1790: Nguyễn Phúc Ánh chánh thức đặt tên cho thành Bát Quái do Victor Oliver xây năm 1789 trên gò thôn Tân Khai là thành Gia Định, còn gọi là Kinh Gia Định.
(IV)Dưới thời nhà Nguyễn: Từ thời Gia Long đến giữa đời Tự Đức, Gia Định có 6 đời Tổng Trấn hay Tổng Đốc:
(A) Dưới thời Gia Long (1802-1820): Kinh Gia Định được đổi làm Thành Gia Định với những vị Tổng trấn và phó tổng trấn sau đây:
1) Kinh Môn Quận Công Nguyễn văn Nhơn từ năm 1801 đến năm 1811 (có sách ghi từ 1801 đến 1805, nhưng ghi như vậy thì lại có khoảng trống 6 năm không có Tổng trấn).
2) Chưởng Cơ Tả Quân Lê văn Duyệt từ năm 1812 đến 1815. Lúc đó Trương Tấn Bửu làm phó tổng trấn và Ngô nhân Tịnh làm Hiệp Tổng Trấn.
3) Kiến Xương Quận Công Nguyễn Huy Đức từ năm 1816 đến năm 1819. Lúc đó Trịnh Hoài Đức làm Hiệp Tổng Trấn(34).
(B) Dưới thời Minh Mạng (1820-1840):
1) Năm 1820, vua Minh Mạng bổ nhiệm Tả Quân Lê văn Duyệt làm Tổng Trấn và Trương Tấn Bửu làm Hiệp Tổng Trấn (phó tổng trấn) từ năm 1820 đến khi Lê văn Duyệt qua đời vào năm 1832
2) Năm 1832: Sau khi Lê văn Duyệt qua đời, vua Minh Mạng bãi bỏ thành Gia Định và chia miền Nam ra làm 6 trấn. Lúc nầy Gia Định trở thành trấn Phiên An. Nguyễn văn Quế làm Tổng Đốc An Biên (hai trấn Phiên An và Biên Hòa) từ năm 1833 đến năm 1834. Sau đó, Hộ Đốc Võ Duy Ninh từ năm 1834 đến năm 1859.
3) Năm 1836: Minh Mạng cho đổi tất cả các trấn ở Nam Kỳ ra làm tỉnh và trấn Gia Định thành tỉnh Gia Định.
(C) Dưới thời Thiệu Trị (1841-1847): Không thay đổi hành chánh ở Nam Kỳ.
(D) Dưới thời Tự Đức (1820-1840): Không thay đổi hành chánh ở Nam Kỳ. (V)Nam Kỳ Dưới thời Pháp Thuộc (1861-1945):
1) Năm 1871: Khu Hành Chánh Sài Gòn do quan Tham Biện cai quản.
2) Năm 1885: Tỉnh Gia Định do một tỉnh trưởng người Pháp cai trị. Gia Định đã chứng kiến biết bao những thăng trầm lịch sử của cả xứ Nam Kỳ lẫn đất nước Việt Nam.

Tỉnh Gia Định Thời Pháp Thuộc:

 
Năm 1858, quân Pháp chiếm thành Gia Định, họ đã tiến hành phá hủy tất cả chùa chiền trong vùng để thiết lập đồn bót từ vùng Chợ Đũi đến Phú Lâm ngày nay. Năm 1860, triều đình Huế cử Nguyễn tri Phương làm chức ‘Gia Định Quân Thứ Tổng Thống Quân Vụ Đại Thần’ vào Nam đắp đại đồn Chí Hòa để chống Pháp. Ngày 12 tháng 4 năm 1860, quân Pháp hạ đồn Chí Hòa; sau đó ngày 14 tháng 4 chúng tiến chiếm Định Tường. Ngày 7 tháng 12 năm 1860, nghĩa binh của Trương Công Định phục kích giết chết tên đại úy Barbé tại vùng Chợ Đũi. Đến ngày 18 tháng 12 năm 1860, giặc Pháp tiến chiếm Biên Hòa. Ngày 5 tháng 6 năm 1862, triều đình Huế ký hòa ước Nhâm Tuất, nhường đứt 3 tỉnh Miền Đông(61) cho Pháp. Người Pháp vẫn chia đất Gia Định ra làm 3 phủ như cũ: Tân Bình, Tân An và Tây Ninh. Từ năm 1867, thực dân Pháp bỏ tên tỉnh Gia Định mà gọi bằng tên Sài Gòn. Tỉnh Sài Gòn thời bấy giờ vẫn là địa bàn cũ của tỉnh Gia Định. Tuy nhiên, hồi nầy thực dân Pháp không chia ra làm phủ huyện, mà chúng chia làm 7 hạt tham biện, trong đó hạt tham biện Sài Gòn(62) gồm hai huyện Bình Dương và Bình Long ngày nay. Năm 1885, để phân biệt với thành phố Sài Gòn, thực dân Pháp lại cho đổi hạt Sài Gòn ra làm hạt Gia Định.
Sau khi hoàn tất cuộc cưỡng chiếm chiếm Nam Kỳ, vào năm 1876, người Pháp chia miền Nam thành ra 4 khu vực hành chánh, mỗi khu vực lại chia làm nhiều địa hạt. Khu vực Sài Gòn gồm 5 hạt: Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa và Gia Định. Khu vực Mỹ Tho gồm 4 hạt: Mỹ Tho, Gò Công, Tân An, và Chợ Lớn. Khu vực Vĩnh Long gồm 4 địa hạt: Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, và Sa Đéc. Khu vực Bassac gồm 6 địa hạt: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Cần Thơ và Sóc Trăng. Riêng 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, họ cắt bớt đất của tỉnh Gia Định để thành lập tỉnh Chợ Lớn và Long An, nên lúc ấy Gia Định chỉ còn lại bốn quận: Gò Vấp, Thủ Đức, Hóc Môn và Nhà Bè, với 17 tổng và 166 xã. Năm 1899, Pháp cắt đất Gia Định cũ ra làm 5 tỉnh: Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Tây Ninh, và Gò Công. Vào năm 1944, vì lý do an ninh lãnh thổ, Pháp cho cắt một phần đất của Chợ Lớn và một phần của tỉnh Gia Định để thành lập tỉnh Tân Bình. Như vậy, dưới thời Pháp thuộc, tỉnh Gia Định dưới thời Minh Mạng bị cắt ra làm 5 tỉnh. Từ năm 1862 đến năm 1899, mỗi tỉnh có một quan Tham Biện cai quản. Sau năm 1899, Pháp đổi chức Tham Biện ra Tỉnh Trưởng:
1) Gia Định: Ngay khi chiếm 3 tỉnh miền Đông vào năm 1859, Pháp đã lấy phần đất trên khu thành Gia Định cũ để thành lập khu Hành Chánh Gia Định, về sau nầy trở thành tỉnh Gia Định.
2) Chợ Lớn: Năm 1876, Pháp lấy 2 huyện Tân Long thuộc phủ Tân Bình và huyện Phước Lộc thuộc phủ Tân An để thành lập tỉnh Chợ Lớn. Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa (1956), tỉnh Chợ Lớn được sáp nhập với tỉnh Tân An và đổi thành tỉnh Long An(63).
3) Tây Ninh: Năm 1859, Pháp lấy 2 huyện Tân Ninh và Quang Hóa, dưới thời Nam triều, để thành lập tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên, vào năm 1861, 2 huyện nầy được cai quản bằng 2 đoàn quân sự, một đặt tại Trảng Bàng và một đặt tại Tây Ninh. Đến năm 1868, hai đoàn quân sự nầy được thay thế bằng hai ty hành chánh. 
4) Tân An: Năm 1864, Pháp lấy 2 huyện Tân Thành và Cửu An để thành lập tỉnh Long An. 
5) Gò Công: Sau Hòa ước Nhâm Tuất, năm 1862, Pháp lấy huyện Tân Hòa để thành lập tỉnh Gò Công. Dưới thời đệ nhất Cộng Hòa (1956), Gò Công được sáp nhập vào Mỹ Tho để thành lập tỉnh Định Tường. Đến năm 1944, vì lý do an ninh lãnh thổ, Pháp cắt một phần đất của Sài Gòn (huyện Tân Bình) và một phần đất của Chợ Lớn để thành lập tỉnh Tân Bình(64). Tuy nhiên, tỉnh Tân Bình chỉ tồn tại đến năm 1945 là bị bãi bỏ.

Tỉnh Gia Định Thời Việt Nam Cộng Hòa: 

Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, miền Nam có 26 tỉnh, gồm 9 tỉnh miền Đông và 17 tỉnh miền Tây. Hồi nầy tỉnh Gia Định chỉ là một trong 9 tỉnh thuộc miền Đông, nhưng vị trí của nó đóng một vai trò vô cùng quan trọng cho cả miền Nam. Diện tích tỉnh Gia Định khoảng 77.281 mẫu tây, gồm các quận: Bình Chánh (18.075 mẫu), nằm về phía Nam của tỉnh Gia Định, chỉ cách thủ đô Sài Gòn khoảng 10 cây số mà thôi. Từ Sài Gòn, theo quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1A), ra khỏi Phú Lâm, sau khi qua khỏi cầu Bình Điền thì tới chợ Bình Chánh, nằm bên trái quốc lộ. Trên sông Bình Điền chúng ta có thể nhìn thấy ghe thuyền tấp nập với những lúa gạo và hàng hóa từ các tỉnh miền Tây được chở lên Sài Gòn Gia Định. Quận Nhà Bè (8.946 mẫu), nằm sát cạnh Sài Gòn. Con đường từ cầu Tân Thuận thuộc quận 4 Sài Gòn đi Nhà Bè rất thuận tiện. Tại bến phà Bình Khánh có kho dầu và bến tàu nơi các tàu dầu tới lầy xăng dầu chuyên chở đi cung cấp cho các cây xăng lẽ tại các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Phần như Shell, Caltex, Esso và Mobil Oil. Quận Gò Vấp (6.799 mẫu), nằm về phía Tây của tỉnh Gia Định. Hai quận Gò Vấp và Hóc Môn là những nơi có nhiều căn cứ quân sự thời đệ Nhất Cộng Hòa. Tại Gò Vấp có Trung Tâm Sinh Ngữ (Ngã Ba Chú Ía) dành cho các sinh viên sĩ quan theo học trước khi xuất ngoại. Bên cạnh đó, còn có các cơ sở quân sự khác như Quân Nhu, Quân Cụ, truyền Tin, Hành Chánh Tài Chánh, Nha Tài Chánh Quân Đội... đều nằm trong quận Gò Vấp. Quận Gò Vấp là nơi có nhiều chùa Phật giáo tại Sài Gòn như chùa Già Lam và Tịnh Xá Trung Tâm. Quận Tân Bình (11.139 mẫu), nằm về phía Tây của tỉnh Gia Định. Tân Bình là nơi có nhiều địa danh nổi tiếng như Ngã Tư Bảy Hiền, Bệnh Viện Vì Dân, Lăng Cha Cả, Phi Trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Ngã Ba Ông Tạ, xưởng bột ngọt Thiên Hương, xưởng bột ngọt Vị Hương Tố, nhà máy Vina Texco, Tân Sơn Nhì, Bà Quẹo, vân vân. Quận Hóc Môn (11.930 mẫu), nằm về phía Tây của tỉnh Gia Định. Đây là một trong những vùng đất có lịch sử lâu đời nhất trong lịch sử Nam Tiến. Từ Gò Vấp qua Hóc Môn có thề đi bằng ngã Chợ Cầu đến Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, qua Ngã Ba Trung Chánh, rồi tới Hóc Môn. Hoặc có thể từ Tân Bình đi lên Ngã Ba Trung Chánh rồi tới Hóc Môn. Tại đây có quốc lộ 1 đi Tây Ninh và qua Cao Miên. Hóc Môn thời đàng cựu đã nổi tiếng là nơi trồng trầu nhiều nhất miền Nam với địa danh “Mười Tám Thôn Vườn Trầu”. Quận Bình Thạnh, nằm về phía Đông của tỉnh Gia Định. Thời đàng cựu là tổng Bình Thạnh Trị. Tất cả các cơ quan hành chánh tỉnh Gia Định đều nằm trong quận Bình Thạnh. Ngoài ra, quận Bình Thành còn các kiến trúc khác như Lăng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt, chợ Bà Chiểu, Thị Nghè, Hàng Xanh, bệnh viện Nguyễn Văn Học, vân vân. Có bốn hướng để đi từ Sài Gòn vào quận Bình Thạnh và từ Cầu Bông, cầu Thị Nghè (gần Sở Thú), cầu Sắt Tân Định, và cầu Phan Thanh Giản(65). Tại Ngã Năm Bình Hòa có 5 trục lộ đi các tỉnh miền Đông và miền Trung, trong đó có quốc lộ số 1. Từ Ngã Năm Bình Hòa còn là trục lộ đi Thủ Đức và Biên Hòa. Quận Thủ Đức (20.932 mẫu), nằm về phía Bắc tỉnh Gia Định. Đây là một trong những quận trù phú nhất trong tỉnh. Nhà máy làm đường lớn nhất miền Nam là nhà máy đường Biên Hòa cũng nằm trong quận Thủ Đức. Thủ Đức còn là cửa ngõ đi vào Gia Định từ các tỉnh miền Trung và những tỉnh miền Đông như Biên Hòa, Bình Dương, Bình Long, Phước Long, Phước Tuy, Vũng Tàu, Long Khánh, Bình Tuy, vân vân. Năm 1832, vua Minh Mạng đổi trấn Biên Hòa thành tỉnh Biên Hòa. Đến năm 1837, nhà vua cho lập thêm phủ Phước Tuy và 2 huyện Ngãi An và Long Khánh. Huyện Ngãi An gồm 4 tổng An Thổ, An Thủy, An Di và An Bình. Đây chính là vùng Thủ Đức ngày nay. Dưới thời Pháp thuộc, huyện Ngãi An, tức là Thủ Đức ngày nay, được sáp nhập vào tỉnh Gia Định. Trước năm 1975, quận Thủ Đức vẫn trực thuộc tỉnh Gia Định. Thủ Đức là nơi có nhiều cơ quan quan trọng như trường Bộ Binh Thủ Đức(66), trường Sĩ Quan Thiết Giáp, nhà dòng Lasan “Mosard” Thủ Đức, Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia Thủ Đức, nhà máy Xi Măng Hà Tiên, nhà máy điện Đa Nhim và Chợ Quán, Kho Đạn Cát Lái, bến đò Thủ Thiêm(67). Ngoài ra, Thủ Đức còn có những cảnh quang thiên nhiên rất nổi tiếng như Suối Lồ Ồ, Suối Xuân Trường nằm dọc trên đường đi Thủ Đức-Biên Hòa(68). Sau năm 1975, quận Thủ Đức được đổi ra làm huyện Thủ Đức trực thuộc thành phố Sài Gòn(69). Do vị trí đặc biệt ven đô của Thủ Đức, nên ngay từ thời đàng cựu(70), Thủ Đức là một vùng nửa quê nửa chợ. Trước năm 1950, quốc lộ 1 là con đường duy nhất đi từ Thủ Đức vào Sài Gòn. Sau năm 1960, xa lộ Biên Hòa được xây dựng, cũng đi từ Sài Gòn đến Thủ Đức. Sau năm 1975, lại một con đường nữa cũng đi đến Thủ Đức, đó là đường Sô Viết Nghệ Tĩnh(71) qua Ngã Tư Hàng Xanh, theo quốc lộ 13, qua cầu Bình Triệu đến Ngã Tư Bình Triệu, rẽ phải để đi về hướng Cầu Gò Dưa đi Thủ Đức. Cái đặc biệt của vùng Thủ Đức là những cánh đồng lúa xanh tươi hòa quyện với những khu vườn cây ăn trái, được bao bọc bởi những khu rừng cao su rộng lớn... tạo nên một cảnh quan thật đặc sắc. Vào đầu thế kỷ thứ XXI, khi Sài Gòn không còn đủ đất dung chứa những nhà máy kỹ nghệ cũng như những ngôi nhà lầu cao nhiều tầng nữa, thì Thủ Đức đã trở thành sân sau của Sài Gòn. Người ta đã đầu tư đất đai nông ngư nghiệp của Thủ Đức vào việc đô thị hóa triệt để vùng nầy. Nhiều ao hồ và kinh rạch nhỏ đã bị lấp đi để lấy đất làm đường sá và xây dựng nhà cửa phục vụ cho công nghiệp và kỹ nghệ. Ngày nay hầu như tất cả những công ty lớn đều tập trung tại Thủ Đức như công ty National Panasonic, Coca-Cola, công ty thời trang Triump, công ty dầu Castrol. Ngoài ra, Thủ Đức còn có hai khu chế xuất lớn là Khu Chế Xuất Linh Trung-Linh Xuân (450 mẫu) và Khu Chế Xuất Bình Chiếu (200 mẫu). Sau năm 1954, Việt Nam bị chia đôi, Gia Định là nơi định cư của một số đông đồng bào di cư từ miền Bắc. Họ cư trú trong các quận Gò Vấp, Xóm Mới và Tân Bình, nhiều nhất là khu Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bảy Hiền. Năm 1957, tỉnh Gia Định gồm 6 quận: Gò Vấp(72), Tân Bình(73), Hóc Môn(74), Thủ Đức(75), Nhà Bè(76), và Bình Chánh(77). Vào năm 1965, tỉnh Gia Định có thêm 2 quận nữa là Cần Giờ và Quảng Xuyên. Quận Cần Giờ là quận ven biển. Đây là vùng ngập mặn với sông rạch chằng chịt. Tàu bè từ biển đi vào Sài Gòn đều phải qua ngã sông Soài Rạp. Phương tiện giao thông chính trong quận Cần Giờ là giao thông đường thủy, con đường bộ duy nhất là con đường đi từ Nhà Bè qua phà Bình Khánh. Trước năm 1975, Sài Gòn là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa, lại nằm trọn trong lòng của tỉnh Gia Định. Trong suốt 21 năm dưới chánh thể Cộng Hòa, vùng Sài Gòn-Gia Định đã được phát triển để trở thành một trong những thành phố lớn trên thế giới. Tháng 2 năm 1976, chánh quyền mới bãi bỏ tỉnh Gia Định và sáp nhập những vùng đất thuộc tỉnh nầy như các quận Hốc Môn, Gò Vấp, Tân Bình, Tân Phú, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Thủ Đức, và Bình Tân, cùng một phần đất của các tỉnh Biên Hòa, Bình Dương và Hậu Nghĩa vào thành phố Sài Gòn-Gia Định. Nhưng đến tháng 7 năm 1976, thành phố Sài Gòn-Gia Định bị đổi tên thành ‘Thành Phố Hồ Chí Minh’. 
Như vậy thành phố Hồ Chí Minh được thành lập trên địa bàn các tỉnh Gia Định, thành phố Chợ Lớn, thành phố Sài Gòn và một phần đất của các tỉnh Biên Hòa, Bình Dương và Hậu Nghĩa. Ngay từ khoảng những năm đầu thế kỷ XX, Gia Định đã có trên 500 cây số đường tráng nhựa, 1.200 cây số đường đất hầm. Tuyến xe lửa từ Sài Gòn đi Nha Trang phải chạy ngang qua Gia Định nên lúc ấy Gia Định là giao điểm giữa các tỉnh miền Trung và Sài Gòn. Về giao thông đường bộ, quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1A) chạy ngang qua Tân Bình, Bình Chánh trước khi đi về miền Tây. Dầu mang tên gì đi nữa, từ ngày các chúa Nguyễn khai sanh ra vùng đất nầy đến nay, đất Gia Định luôn đi tiên phong trong vấn đề phát triển kỹ thuật, kinh tế, thương mại cho cả miền hay cả nước Việt Nam.

Di Tích Lăng Mộ Các Quan Đàng Cựu Trên Vùng Đất Gia Định:

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, vùng đất Gia Định là cái nôi của cuộc Nam Tiến, là nơi hội tụ rất nhiều di tích lịch sử liên hệ tới các chúa nhà Nguyễn cũng như tín ngưỡng của những cư dân đến đây đầu tiên. Trong số những di tích lịch sử nầy, Lăng Ông là một trong những lăng miếu được dân chúng tôn kính cho đến ngày nay. Lăng Ông(78) được xây dựng trên một khoảng đất rộng ở khu phía nam xã Bình Hòa, cũng là khu phía Nam của tỉnh Gia Định. Chung quanh được bao bọc bởi 4 bức tường thấp, có 4 cửa thông ra đường: cửa đông thông ra đường Trịnh Hoài Đức, cửa bắc thông ra đại lộ Chi Lăng, cửa tây thông ra đường Lê văn Duyệt, và cửa nam thông ra đường Châu văn Tiếp. Cửa Nam là cửa chính vào lăng. Cổng lăng được xây dựng theo kiểu ‘Tam Quan’ có mái cong và mỗi cửa chồng hai mái. Ở hai bên cửa về phía trong, có hai cái đỉnh lớn, cao hơn bờ tường. Đền và lăng chiếm khoảng một phần tư khu đất, chia làm hai khu, khu trước là lăng, trong đó có hai ngôi mộ của quan Tả Quân và bà vợ. Ngoài bình phong có đặt ba cái đỉnh lớn bằng xi măng, hai cái hình tròn và cái thứ ba có hình chữ nhật. Kế đó là những bồn cây được uốn cong hình phượng, hoặc kết thành những chiếc lọng màu xanh thẳm. Kế đó là một tấm bia, được dựng lên dưới thời vua Thành Thái (năm 1894). Sau khu lăng mộ là một khoảng sân có 5 cái đỉnh sành màu xanh trắng. Như vậy, từ bên ngoài vào tới đền có cả thảy 9 cái đỉnh (cửu đỉnh, biểu tượng của xã tắc dưới thời phong kiến). Bên trong cùng là ngôi đền, gồm điện chính, điện giữa và điện ngoài. Trong đền lúc nào cũng khói hương nghi ngút. Phải nói đất Gia Định là nơi qui tụ rất nhiều lăng tẩm và mộ của các quan đàng cựu nổi tiếng ở miền đất phương Nam. Ở ngoại ô vùng Phú Nhuận, bên trong đại lộ Võ di Nguy là lăng của Bình Giang Quận Công Võ di Nguy, một trong những khai quốc công thần đời Gia Long. Võ di Nguy làm tới chức Thiếu Bảo với nhiệm vụ thống suất Hải Quân và tử trận vào năm 1801 tại đầm Thị Nại, Qui Nhơn. Trên vùng đất Gia Định còn có lăng của quan Khâm Sai Chưởng Cơ Nguyễn văn Học. Ông tên thật là Trần văn Học, được Gia Long cho mang quốc tính. Ông đã theo phò Nguyễn Ánh từ năm 1780. Năm 1782, chính ông đã hộ tống gia quyến Nguyễn Ánh ra đảo Thổ Châu. Năm 1790, ông lãnh lệnh Nguyễn Ánh xây Kinh Gia Định. Ban đầu lăng của ông tọa lạc phía sau Ty Ngân Khố Gia Định, đến năm 1930 được cải táng về nơi vườn hoa bên cạnh Ty Thanh Niên Gia Định. Tại vùng Phú Nhuận, trên đường Tự Đức còn có lăng của Phó Tổng Trấn Gia Định Trương Tấn Bửu, người đã theo phò Nguyễn Ánh trong thời còn bôn tẩu trốn nghĩa binh Tây Sơn. Cũng trong vùng Phú Nhuận còn có lăng và đền thờ tro cốt của Quận Công Võ Tánh, người đã theo Nguyễn Ánh từ khi vị chúa nầy còn bôn tẩu lẩn trốn nghĩa binh Tây Sơn. Năm 1801, ông và Ngô tùng Châu bị quân Tây Sơn vây hãm trong thành Qui Nhơn, nên cả hai đều tử tiết theo thành. Ngoài ra, trong vùng xã Tân Sơn Hòa còn có lăng của quan Tả Dinh Lê văn Phong(79), em ruột của đức Tả Quân Lê văn Duyệt. Trong vùng Phú Lâm vẫn còn ngôi mộ của tướng Đỗ Thành Nhân(80), một trong tam hùng đất Gia Định, theo phò Nguyễn Ánh trong lúc vị chúa nầy đang cơn hoạn nạn, đến khi thanh thế vững vàng thì chính Nguyễn Ánh đã giết vị tướng nầy chỉ vì những lời dèm pha ganh ghét của người khác.
 
------------

Để tiện theo dõi "Đất Phương Nam 1", kính mời Quí Độc Giả mở Link bên dưới:https://huynhhuuduc.blogspot.com/p/blog-page_53.htm

------------- 

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2018

Anh Chợt Biết


Em vẫn thế khiến hồn anh ngơ ngẩn
Nét thiện lương mang dáng dấp thiên thần
Mỗi chiều về lặng ngắm ánh vàng buông
Anh mới biết lòng mình nhiều vương vấn.
            Em vẫn thế ánh trăng tròn tháng bảy
            Sáng hồn nhiên khiến anh phải ngất ngây
            Gió vờn quanh khoe suối tóc mượt mà
            Anh cảm nhận tim mình đang rung rẩy
Em vẫn thế khiến anh nhiều trăn trở
Chuyện tình mình sao cứ tựa bài thơ
Vầng trăng khuya chênh chếch chiếu qua rèm
Anh mới biết mình vẫn hoài nhung nhớ.
            Em vẫn thế khiến anh nhiều bối rối
            Khi xa nhau tim dao động bồi hồi
            Để đêm về luôn cảm thấy cô đơn
            Anh mới biết chia tay là nông nổi.
                                            Quên Đi

***

Thứ Tư, 31 tháng 10, 2018

Thơ Tự Do



 

Sau khi thơ mới thoát khỏi thất ngôn , ngũ ngôn , lục bát , đem một sinh khí mới cho thơ ! Sau 1954 người ta nói tới một thứ thơ mới hơn (!) người ta gọi là thơ “ Tự Do “ . Thực ra thì thơ mới vẫn theo vần điệu . Đa số vẫn là Thất Ngôn ! Số lượng nhiều hơn , có cái mới là nhiều khổ ( mỗi khổ 4 câu ) . Trước đó cũng có khi nhiều khổ ( Trường thiên , hoặc thất ngôn hoặc song thất lục bát … như Tỳ bà hành … ) Hai bài tuyệt tác , rất mới là Màu Thời Gian , Tống Biệt Hành đã làm một cuộc bứt phá đẻ đi tìm Tự Do !!!
Thơ Tự Do đã làm loạn Thi Đàn , rất nhiều người khen chê từ khoảng 1954 .
Miền Bắc có Hữu Loan , Trần Dần , Phùng Quán , Hoàng Cầm . Miền Nam có Quách Thoại , Thanh Tâm Tuyền
Kịch thơ Kiều Loan của Hoàng Cầm , tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc của Thanh Tâm Tuyền là những trái Bom Tấn !!!
Tinh thần mê tự do của Hoàng Cầm , Quách Thoại đà khiến những bài thơ của các ông có một không khí tự do tuyệt vời !
Những bài thơ trúc trắc , gắt gỏng , gào thét tôi bỏ vào rọ Thơ Tự Do vì tôi rất thích cái nổi loạn , gào thét của nó như :

Máy điện giục gầm gừ
Chuông đạo réo vô tư
Kẻng tù khua gắt gỏng
( Nghĩa Đời Trong Ba Tiếng )

hoặc :
….. Và hồi lâu trước ngưỡng cửa song tù
Tôi còn nghe tiếng nói của Châu Ro
Đau cái bụng ! Ui Chu Choa ! Tức lắm !
…..
hoặc :

Đã đứng lên những con người uất ức
Những thế hệ nuốt oan hờn giữa ngực
Đã đứng lên những chiến sĩ những anh hùng
Những gươm thiêng giáo nhọn những gan đồng
Những dạ sắt đã đứng lên tất cả
…..
Lũ chúng bay loài bạc ác vô nhân
Xây sung sướng trên nhục nhằn kẻ khác
Lấy gian khổ của người làm cực lạc
Rượu mồ hôi nước mắt
Bánh xương tủy tim gan
Thịt nhân quần chúng mày vẫn uống ăn
…..
Còn rừng thiêng nước độc
Còn núi hiểm đèo cao
Còn cát khô đảo vắng biển sâu nào
Bay chẳng đọa những anh hùng chiến sĩ

Tôi không thích loại thơ “Tân Hình Thức “ gần đây vì nó ảnh hưởng quá nhiều của cái Tân Hình Thức Âu Mỹ ( nếu bạn nói là tối tăm , khó hiểu thì cũng được )
Tôi thích thơ nói lên khát vọng Tự Do của con người ! Hình như bài Liberte’ của ông J. Pre vert thì phải !
Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người coi Thanh Tâm Tuyền là cha đẻ của thơ Tự Do . Chính vì Quách Thoại , Thanh Tâm Tuyền nghênh ngang , lớn giọng đòi tự do sáng tạo . Những bài thơ của các ông như những Tuyên Ngôn của thơ tự do !

Tư tưởng , giòng câu chứa đựng vạn niềm tin
Bao tâm huyết đổ dồn lên y nghĩ
Thơm tho thay những y tình tề nhị
Nói cho cùng những cảm động ẩn trong lời
Tôi biết các anh những kẻ đã khóc cười
Là những kẻ còn tin yêu vững sống
Còn sang tạo các anh hãy còn sáng tạo
Mặt trời mọc !
Mặt trời mọc !
Rưng rưng mùa hoa gạo
Lỡ một mai tôi chết trần truồng không cơm áo
Thì hồn tôi xin phảng phất chốn trăng sao
Để nhìn các anh như vừa gặp buổi hôm nào
Và câu chuyện tôi sẽ cười nhắc bảo
Còn sáng tạo ta hãy còn sáng tạo
Quách Thoại

Bài thơ Trăng Thiếu Phụ của Quách Thoại biểu tả một tâm hồn yêu tự do , nhưng không ngủ và muốn :
Gửi cả lên trăng tiếng thở dài

Bài thơ Gửi Quách Thoại đúng là một “ Thông Điệp “ gửi đi , xác định rằng Tự Do sẽ thắng

Mây đục đậu lên bờ cửa sổ
Người nằm ôm chăn mỏng nhớ đời
Bệnh viện thành công viên khuất nẻo
Người ngủ một mình đợi chúng tôi
Trời cao , trời cao xin xanh biếc
Hơi thở rất tròn như vành môi
Không trách chúng tôi nhiều quên lãng
Cửa ngoài chưa thỏa vút tiếng cười
Còn thương những kẻ đau rỏ máu
Những chuyện hôm qua chuyện núi đồi
Mai kia than thể hoang từng mảnh
Nằm đây rồi cũng rõi mây trôi
Thoại ơi ! Thoại ơi ! Không biết khóc
Những giòng nước mắt ướt mặn môi
Không chết trần truồng không thể được
Chúng tôi đập vỡ những hình hài
Xin trao thi sĩ vòng hoa tặng
Chúng ta đã thắng giữa cuộc đời
T.T.T.

( Quách Thoại nhất quyết chết trần truồng . Bạn bè mặc quần áo cho ông , khi bạn đi khỏi , ông lại cởi hết !!! )

Tuyên Ngôn của nhóm Sáng Tạo là yêu Tự Do . Dĩ nhiên họ cũng ghét những kẻ ghét tư do :

Tên tôi là Phạm văn Thông
Tôi không ! Tôi không ! Tôi không !
Kệ xác nó
Cứ nhận đầu chôn sống
T.T.T.

Nếu Sáng Tạo ra tuyên ngôn , thì nhiều người khác xây dựng Hiến Chương chống lừa dối , hèn hạ , tham nhũng , lãng phí …
Ai mà không thán phục Phùng Quán với lời hứa như đing đóng cột của ông : quyết trở thành nhà văn

Chân Chính

Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
…..
Tôi muốn làm nhà thơ chân thật
Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá
Ai là không căm ghét những kẻ tham ô lãng phí :
….. Tôi đã đi qua
Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt
Tôi đã gặp
Những bà mẹ già quấn giẻ rách
Da đen như củi cháy giữa rừng
….. Tôi đã gặp
Những cô gái…
Hai mươi ? Ba mươi ?
Tôi không nhìn ra nữa
….. Tôi đã gặp
Những đứa em còm cõi
Lên năm lên sáu tuổi đầu
Cơm thòm thèm độn cám với rau
……..
Tôi muốn đúc thơ thành đạn
Bắn vào tim những kẻ làm càn
Những con người tiêu máu của dân
Như tiêu giấy bạc giả …
Phùng Quán

Ai là không căm ghét những kẻ nịnh hót , thì khi đọc “ Cũng Những Thằng Nịnh Hót “ của Hữu Loan sẽ thấy … đã liền :

….. Dạ Dạ Anh Anh
Dạ Dạ Em Em
Hít thượng cấp
Cứ thơm như múi mít
……
Nếu trong thơ Hữu Loan có hình ảnh dung tục ( tục ngữ Bắc Kỳ có câu : L…thơm như mít , đít thơm như cam ) thì Nguyễn Duy không ngại dùng cả tiếng Đan Mạch ( Đ .M. = tiếng Đan Mạch ) Đến Bùi Chí Vinh thì nghệ thuật dùng chữ đã lên đến đỉnh tuyệt vời !
Rất nhiều bài thơ của ông vẫn có vần, nhưng hồn con chữ của ông đã nhẩy ra ngoài vần ! Hết đọc truyện Liêu Trai nửa đêm , đến lên Đà Lạt : Vén sương mù cổ tích coi chơi … đến … Chạm Ngõ :

Hai người lớn gặp mặt nhau
Vậy là con trẻ qua cầu gió bay
Áo tình anh giữ trong tay
Bỏ công em cởi từ ngày còn thơ

Chữ nghĩa của Bút Tre cũng nhẩy lung tung nhưng không bằng Bùi Chí Vinh .
Bút tre móc túi ra được 14 chữ , bèn xếp trên sáu dưới tám cho thành câu thơ lục bát tự do

Anh đi công tác Pơ Lê
Cu dài dằng dặc biết ngày nào ra


Con chữ của Bùi Chí Vinh nhẩy nhót điệu nghệ hơn ( có trời mà biết nó nhẩy điệu gì ) chỉ biết rằng Lạ Lắm … Lạ Lắm ! Cả ngàn bài thơ của Bùi Chí Vinh Lạ Lắm … Lạ Lắm !
Cái lạ của Bút Tre và Bùi Chí Vinh không sánh được với Bùi Giáng ! Hẳn nhiên rồi ! vì Bùi Giáng là Thi Tiên , Thi Thánh , Thi Phật :

Em về giũ áo mù sa
Trút quần phong nhụy cho tà huy bay

Có mà điên mới giở giọng phê bình thơ Bùi Giáng !
Dù sao thì sao , cái lạ lùng , quá đẹp , quá hấp dẫn , trên cả tuyệt vời của Bùi Chí Vinh làm tôi choáng váng , quỳ xuống , hôn lên từng chữ từng câu

SINH NGHI HÀNH

Sinh nghi ta viết một bài hành
Vợ nghi chồng em út nghi anh
Cha nghi con cái bè nghi bạn
Thủ Trưởng thì nghi hết ban nghành
……..
Thời buổi công hầu như chén cứt
Thiếu chó mèo ăn cũng rất nhanh
Mèo ăn cho chó leo bàn độc
……….
Thúy Kiều phát triển nhiều như thế
Thảo nào đất nước hóa lầu xanh
Nhà tù phát triển nhiều như thế
Kẻ sĩ làm sao dám học hành
Ta làm thơ mà lòng đứt ruột
Suốt đời bao tử chạy loanh quanh
Ồ !
Hậu sinh khả úy !


Những chàng trai trẻ , rất trẻ lập nhóm Mở Miệng ! Làm thơ Rác ! thơ Nghĩa Địa ! … in những bài thơ ở nhà xuất bản Giấy Vụn !!!
Các chàng đã ra chiêu đầy sức sống ! Đầy suy tư ! Thật là những Chiêu Thức Bậc Thầy :

LUỘC

Món 1 : Luộc
Theo kiểu rau muống luộc của Bắc Kỳ
Sống ở VN ăn rau muống luộc là tốt nhất
Chưa tìm thấy thứ gì mà người Việt không thể luộc
Vậy nên
Sống ở VN ăn món luộc là tốt nhất
Từ luộc xe Honda, nhà đất , bằng cấp , chức tước
Từ luộc vệ sinh , an toàn thực phẩm , bảo hiểm
Từ luộc trí tuệ , thẩm mỹ , văn hóa , nhân tính
Chưa tìm thấy điều gì mà VN không thể luộc
Vậy nên
Sống ở VN ăn món luộc là tốt nhất
Từ luộc cho đến luộc
Nhà nhà tham gia luộc
Ngành ngành thi đua luộc
Duy chỉ có lí do tại sao mình bị luộc là không bị luộc
Vậy nên
Sống ở VN luộc là tốt nhất
Luộc là tốt nhất
……………….
Lí Đợi


RỒI TÔI
Rồi tôi nhận ra tiếng nói từ bầy súc vật
Mơ hành vi của những con người
Tổ Quốc !
Chúng ta vĩnh viễn không được tự ruồng bỏ
Bởi suy nghĩ hẹp hòi của chúng ta
Thế giới cũng vút lên từ bước chân mòn
Với một niềm tin ở dưới gót
Tôi chiêm bao thấy đứa con sắp lọt lòng củ tôi nhắn nhủ
Tổ quốc ta như một con mèo
Tiếng chào đời con gọi meo meo

Bùi Chát

ĐÈN ĐỎ

Tôi đứng trước một ngã tư
Đèn đỏ ngăn tôi lại
Những dòng người ra đi tất bật
Gió mát sau lưng họ
Chúng tôi , nhiều thế hệ
Bị giữ lại bởi đèn đỏ
Chúng tôi không cất bước được
Giao lộ ở khắp nơi
Không ai có thể vượt qua đèn đỏ
Chúng tôi đứng trước ngã tư
Nhiều thế hệ
Chỉ một con đường đầy bụi đỏ trước mặt

Bùi Chát

Chân Diện Mục
-------------------
(*) Góp ý Thêm



Nói đến thơ Tự Do, trước hết ta cần biết sơ về Thơ Mới.
Tại sao được gọi là Thơ Mới?
Vào Đời Đường, khi dạng Thơ Luật xuất hiện và phát triển rộng, mọi người đặt tên dạng này là thơ Tân Thể, và tất cả những dạng thơ trước đó gọi là Cổ Thể. Tương tự, ở Việt Nam ta, khi dạng thơ được Phan Khôi phát động và xuất hiện từ 1932 được gọi là thơ mới và các dạng thơ từ 1932 trở về trước là Thơ Cũ.
Theo quyển Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh:
"Thơ mới cũng có nhiều lối... thơ Tự Do chỉ là một phần trong đó..."
Thơ Mới đã phá bỏ nhiều khuôn phép của Thơ Cũ, có câu nhiều hơn 10 chữ, các câu trong bài thơ không đều, hoặc là trong câu thơ có nhiều câu thừa như dạng văn xuôi: Ta là một khách chinh phu (Lời Chinh Phu của Thế Lữ). Ý cả câu này xét kỹ chỉ là 2 từ chinh phu, còn 4 chữ kia lại thừa. Trong khi thơ cũ : Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo. Không một chữ nào thừa.
Nhưng Thơ Mới vẫn gieo vần với nhau. Tuy nhiên, Thơ Mới cũng lưu giữ rất nhiều khuôn phép cũ, như các bài thơ 5 chữ, thơ 7 chữ...; phương pháp gieo vần yêu vận cũng như cước vận....
Một nhánh mới của Thơ Mới xuất hiện, phá bỏ cả những khuôn phép cũ về gieo vần. Nói rõ hơn là không cần hoặc gieo vần rất ít. Nhánh mới này được mọi người gọi là Thơ Tự Do...
Huỳnh Hữu Đức

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2018

Xuất Tái (Lương Châu Từ) - Vương Chi Oán


出塞  (凉州词)                      Xuất Tái (Lương Châu Từ)

黃河遠上白雲間            Hoàng hà viễn thướng bạch vân gian     
一片孤城萬仞山            Nhất phiến cô thành vạn nhận san     
羌笛何須怨折柳            Khương địch hà tu oán Chiết Liễu        
春風不度玉門關。        Xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan          
               王之渙                                       Vương Chi Oán                            


Dịch Nghĩa: Lại Đến Lương Châu

Nhìn từ xa sông Hoàng Hà như vươn lên đến tận mây trắng trên không
Trên núi cao muôn trượng có một mảnh thành cô độc
Tiếng sáo người Khương thổi chi khúc nhạc buồn Chiết Dương Liễu (*)
Gió xuân chẳng hề thổi tới ải Ngọc Môn.

(*) Chú thích: Khúc Chiết Dương Liễu thời xưa, phổ cho sáo, gợi nỗi buồn người đi chinh chiến hoặc kẻ xa nhà
Dịch Thơ

1/
Xa tít Hoàng Hà nối tiếp mây
Núi cao còn lại mảng thành nầy
Thổi chi khúc sáo buồn Dương Liễu
Ải Ngọc bao giờ xuân đến đây.

2/
          Hoàng Hà như chạm trời xanh
Núi cao muôn trượng mảng thành đơn côi
        Chiết Dương khúc sáo chia phôi
     Ngọc Môn quan ải lâu rồi vắng xuân.
                                      Quên Đi

***

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2018

Hương Cau


              Hương Cau
 

Trồng lại bên đường mấy tán cau
Vầng trăng lơ lửng sáng làu làu
Những đêm hoa trắng mùi bay thoảng
Bóng mẹ sân vàng chổi bó mau
Lam lủ nhà nông thường bắt nhịp
Xôn xao mặt nước mãi pha màu
Tâm hồn giản dị cùng cây cỏ
Một góc thanh bình với bóng cau.
 

Một góc thanh bình với bóng cau
Như bài ám độc thuộc cho làu
Trạch Lân Mạnh Mẫu ba thường kể
Lá chổi tàu mo má vẫn trau
Đến một ngày kia trời đổi mặt
Lá vàng trước ngõ cũng thay màu
Trăng treo lay lắc xưa còn nhớ
Trồng lại bên đường mấy tán cau.

                          Cao Linh Tử
                             21/9/2018

 Bài Thơ Họa

            Chuyện Đời

Buồn tình phe phẩy quạt mo cau
Vinh nhục nào ai đã hiểu làu
Thấy đó xênh xang cười chẳng ngớt
Rồi đây xuôi xị khóc càng mau
Tai to bụng phệ đừng khoe dáng
Xuống chó tiêu danh mặt đổi màu
Được mất ở đời sao tránh khỏi
Coi chừng có lúc phải mày cau


Coi chừng có lúc phải mày cau
Văn hóa ngàn năm chẳng muốn làu
Cậy chức ỷ quyền suy xét lại

Đối nhân xử thế phải dồi trau
Điều hay hy vọng luôn tồn tại

Cái xấu mong rằng sẽ lụn mau
Đạo lý ông cha là mãi mãi

Rồi đây mày sẽ chẳng còn cau.

                              Quên Đi
***

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2018

Đất PN Từ Đất Phiên Trấn Đến Tỉnh Gia Định P7


Từ Dinh Phiên Trấn Đến Tỉnh Gia Định: 

Dinh Phiên Trấn (Phiên An) đất rộng và phì nhiêu mầu mỡ so với các vùng đất khác của xứ Đàng Trong thời bấy giờ. Phía Bắc giáp với Biên Trấn, phía trên từ sông Thủ Đức, đến sông Bến Nghé, chạy xuống sông Nhà Bè. Phía Nam giáp với Định Tường Trấn, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp Cao Miên. Lúc mới thành lập trấn nầy gọi là Dinh Phiên Trấn, có 1 huyện và 4 tổng, lỵ sở đóng tại thông Tân Lân, tổng Bình trị, huyện Bình Dương. Ngày 12 tháng giêng năm Mậu Thìn, 1808, vua Gia Long năm thứ 7, đổi thành Trấn Phiên An, lấy huyện làm phủ, lấy tổng làm huyện. Đến năm Gia Long thứ 15 (1816), thì lỵ sở được dời qua Hòa Mỹ, phía Bắc Thành Gia Định, bấy giờ trấn Phiên An có 1 phủ, 4 huyện và 8 tổng. Thời đó huyện Tân Bình được đổi làm phủ Tân Bình, các tổng Bình Dương, Tân Long, Thuận An và Phước Lộc đều được nâng lên làm huyện. Đời vua Thế Tổ nhà Nguyễn là vua Gia Long và mãi đến đời các vua kế tiếp như Minh Mạng và Thiệu Trị vẫn cho áp dụng chánh sách thật dễ dãi đối với lưu dân đi khai khẩn đất hoang ở miền Nam. Năm 1830, vua Minh Mạng cho ban hành một chỉ dụ quy định rõ những vùng đất hoang vu như rừng núi, gò đống, bờ sông, bờ suối, vân vân đều có thể được cấp một cách dễ dàng cho lưu dân khai khẩn như sau: “Quan lại các cấp khắp nơi trong nước đều phải giúp sức cho toàn dân và binh lính bất kể chính hộ hay khách hộ, hãy làm đơn trình xin khai khẩn cày trồng theo thổ ngơi thích hợp, tất cả những chỗ đất nào còn bỏ hoang. Dù trước đó là công hay tư, ai xin lãnh trưng trước thì được. Sau 3 năm tính từ ngày nộp đơn, các quan sở tại kiểm tra thực tình làm tờ trình lên tỉnh. Ba năm tiếp theo nữa, đối với các ruộng đất trồng lúa, bắp, đậu, mè, vừng thì không kể trước đó là công hay tư đều cho người khai khẩn nhận làm của riêng, cho theo hạng ruộng đất tư bắt đầu thu thuế để tỏ lòng khuyến khích.” Bài học về chánh sách ruộng đất của các tiên hoàng đế triều Nguyễn vẫn còn đó. Chính nhờ việc khuyến khích chiếm dụng, sở hữu của các chúa Nguyễn nên việc khai khẩn và canh tác đất đai dưới thời các chúa Nguyễn tiến triển dễ dàng. Vào thời đệ nhị Cộng Hòa, miền Nam cũng cho áp dụng chánh sách “Người Cày Có Ruộng” với một loạt truất hữu đất ruộng của những đại điền chủ để cấp cho nông dân nghèo, không có ruộng cày cấy. Đây là phương cách khả dĩ mang lại ruộng cày cho đông đảo nông dân, nhất là những nông dân nghèo mà phương tiện sinh sống duy nhất của họ chỉ là nông nghiệp.

Năm 1802, sau khi lên ngôi, ban đầu vua Gia Long vẫn giữ nguyên sự phân bố hành chánh có sẵn từ trước với 3 dinh và 1 trấn là Biên Trấn dinh (Biên Hòa), Phiên Trấn dinh, và Gia Định cũng thuộc một phần của phủ Tân Bình cũ, Vĩnh Định, và Hà Tiên trấn.
Sau đó nhà vua cho đổi thành 5 trấn trong vùng Gia Định Thành(46). Dinh Phiên Trấn đất rộng và phì nhiêu mầu mỡ so với các vùng đất khác của xứ Đàng Trong thời bấy giờ. Phía Bắc giáp với Biên Trấn, phía trên từ sông Thủ Đức, đến sông Bến Nghé, chạy xuống sông Nhà Bè. Phía Nam giáp với Định Tường Trấn, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp Cao Miên. Lúc mới thành lập trấn nầy gọi là Dinh Phiên Trấn, có 1 huyện và 4 tổng, lỵ sở đóng tại thông Tân Lân, tổng Bình trị, huyện Bình Dương. 
Khi Gia Long dời ‘kinh’ về thành Phú Xuân, thì vùng Gia Định đã trở nên thịnh vượng và trù phú lắm rồi. Lúc nầy thành Gia Định về phía Đông giáp với sông Thị Nghè, về phía Nam giáp với sông Bến Nghé (Sài Gòn), phố phường đông đúc, sầm uất, chợ búa buôn bán tấp nập, trên bến dưới thuyền. Mặc dầu về phía Tây thành Gia Định dân cư thưa thớt, nhưng đi xa hơn một chút nữa về phía Tây (khoảng 6 cây số) là thành phố Đê Ngạn (Chợ Lớn) của người Hoa, tập trung rất đông dân cư, phần lớn là người Minh Hương, đây là một trung tâm thương mãi và thủ công nghệ rất phồn thịnh. Chợ Lớn và Sài Gòn nối liền nhau bằng cả đường bộ lẫn đường sông. Thành Gia Định dưới thời Tổng trấn Lê văn Duyệt đã được nhiều người Tây phương trầm trồ khen ngợi là có phong cách của một kinh thành châu Âu. Năm 1819, một viên đại úy hải quân Mỹ đã ghé lại Sài Gòn, và năm 1824 đã xuất bản một quyển sách ở Luân Đôn có tựa đề ‘Một Chuyến Du Hành Sang Nam Kỳ’ (A Voyage to Cochinchina), đã mô tả Sài Gòn, mà sau nầy nhà khảo cổ học người Pháp tên Louis Malleret cho là chính xác: “Từ một cây cầu xinh đẹp làm bằng đá bắc ngang qua một hào rộng và sâu, chúng tôi đến cửa Đông Nam của thành, hay có lẽ nói đúng hơn là thành phố quân sự, bởi vì những bức tường và gạch của nó được làm bằng đất và gạch cao 6 mét và rất dày, bao bọc một mặt bằng và vuông góc, mỗi cạnh dài bằng 3 đến 4 dặm. Ở đó là nơi cư ngụ của các quan tổng trấn cùng các võ quan, và có những doanh trại rộng rãi, tiện nghi, đủ chỗ cho 50 ngàn binh lính. Tòa vọng cung nằm ngay trung tâm khu nhà ở, trên một bãi cỏ đẹp cùng với các khu vườn. Nó chiếm khoảng 3,25 mẫu, bao quanh một hàng rào cao... Ở mỗi bên, phía trước tòa vọng cung, cách chừng 40 mét là một tháp canh vuông vức, cao khoảng 12 mét, có một quả chuông to. Sau tòa vọng cung, cách khoảng 60 mét, là một tòa nhà khác to gần bằng, gồm các căn hộ dành cho phụ nữ và các công chức phục dịch đủ loại, mái lợp ngói tráng men trong, trang trí hình rồng và những con vật đáng sợ khác giống như ở Trung Hoa. Tòa nhà nầy dùng để cho nhà vua và hoàng tộc sử dụng, nhưng từ cuộc nội chiến chấm dứt đến nay, họ chưa từng trở lại Sài Gòn... Khi đi ngang qua những tòa nhà nầy, các quan hướng dẫn hạ thấp lọng xuống cho chúng tôi làm theo để chào kính nơi ở trống vắng của bậc thiên tử. Trong dinh của Phó Vương(47), trên một bức tường thấp có đặt nhiều đồ vật bằng sứ xinh xắn. Bên ngoài trồng nhiều loại cây ngoại nhập và bản xứ trông thật đẹp, bên kia bức tường là một khu vườn được tổ chức theo một sở thích đáng khen ngợi, trong đó có rất nhiều loại cây trái, phần lớn đang ra quả... Lúc trở lại cổng lớn phía Nam, cũng là lúc chúng tôi đi vào, chúng tôi men theo một cái trại lớn, bên trong chứa tới 250 khẩu đại bác đủ cỡ, nhiều khẩu bằng đồng và hầu hết theo kiểu Tây phương... Khi tới chòi canh chính gần cổng, chúng tôi thấy nhiều người lính đang bị phạt đeo gông, nhân dịp nầy chúng tôi mới được biết gông dành cho lính làm bằng tre, còn gông dành cho người khác thì làm bằng gỗ nặng và đen, Về phía Bắc cổng thành có một công sự với cột cờ lớn, quốc kỳ An Nam được kéo lên vào ngày đầu tháng âm lịch và nhiều dịp khác.” Năm 1822, một người Anh tên Crawfurd(48) đã nhận xét trong nhật ký của mình như sau: “Thành Gia Định gồm hai thành phố khác nhau, cách nhau 3 dặm. Bến Nghé là trụ sở của chính quyền và thành trì trên bờ phía Tây của con sông lớn và Sài Gòn nằm trên một con sông, thông thương trực tiếp với Bến Nghé. Sài Gòn là trung tâm thương mãi chính và là nơi cư trú của người Trung Hoa.” Một người Anh khác tên Finlayson, cũng thuộc phái bộ của ông Crawfurd, đã mô tả thành Gia Định như sau: “Bến Nghé ở kề cận một thành lũy, được xây dựng từ ít năm qua, theo những nguyên tắc của phòng tuyến Âu châu. Nó có hình vuông, mỗi cạnh dài khoảng nửa dặm, nhưng thành chưa hoàn tất, người ta chưa làm lỗ châu mai, cũng không đưa súng đại bác lên tường thành.” Ông Finlayson cũng phải trầm trồ khen ngợi về 2 thành phố của vùng đất nầy như sau: “Mỗi cái trong hai thị trấn(49) đều to bằng kinh đô Bangkok của nước Xiêm. Nhà cửa rộng lớn, thích hợp với phong thổ, mái lợp ngói, cột làm bằng gỗ đỏ, vách thì trét đất sét lên sườn tre rồi tô hồ lên. Nhiều nhà cao cẳng, sàn bằng ván, xếp hàng dọc theo bờ kinh, bờ sông hay dọc theo đường cái quan rộng rãi quang đãng. Phố xá ngay hàng thẳng lối hơn là ở nhiều kinh thành châu Âu.”
Năm 1832, sau khi Tả Quân Lê văn Duyệt từ trần, vua Minh Mạng bãi bỏ chức tổng trấn, và chia miền Nam ra làm 6 tỉnh trực thuộc triều đình(50): Gia Định (Phiên An), Biên Hòa (Biên Trấn), Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, và Hà Tiên. Mỗi tỉnh nhà vua đặt chức Tuần Phủ, Bố Chánh, Án Sát, và Lãnh Binh cai quản. Kể từ đó Gia Định chỉ còn là một trong 6 tỉnh của Nam Kỳ Lục Tỉnh mà thôi. Vua Minh Mạng lại cắt đặt Nguyễn văn Quế làm Tổng Đốc An Biên cai trị 2 tỉnh Phiên An và Biên Hòa. Riêng mỗi tỉnh có quan Bố Chánh và Án Sát. Bạch Xuân Nguyên và Nguyễn Chương Đạt là 2 vị quan Bố Chánh và Án Sát đầu tiên của tỉnh Gia Định. Đến năm 1833, Lê văn Khôi(51) nổi dậy chiếm thành Phiên An và chống lại triều đình suốt 3 năm liền. Năm 1835, sau khi dẹp xong vụ Lê văn Khôi, để quên đi nỗi nhục nhã cứ mãi ám ảnh, vua Minh Mạng cho đổi tỉnh Phiên An ra làm tỉnh Gia Định. Sau vụ Lê văn Khôi, vua Minh Mạng đã cho san bằng thành Gia Định, chỉ vì ông không muốn thấy một nỗi nhục đã để bị thành mất vào tay Lê văn Khôi trong suốt bốn năm ròng rã. Cùng năm 1835, tỉnh Phiên An được đổi làm tỉnh Gia Định. Như vậy, tên Gia Định được thay đi đổi lại trải qua nhiều thời kỳ (năm 1698, nó mang tên phủ Gia Định, từ năm 1790 đến năm 1802 nó mang tên Kinh Gia Định, năm 1832 là tỉnh Phiên An, và đến năm 1835 lại đổi thành tỉnh Gia Định). Năm 1836, vua Minh Mạng cử quan đại thần Trương Đăng Quế vào Nam kinh lý để tuyển lính và đo đạt đất đai nhằm thiết lập sổ đinh bạ và địa bạ cho các thôn xã tại vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh. Tỉnh thành Gia Định được đặt tại vùng Sài Gòn, gọi là tỉnh Phiên An. Năm 1837, vua Minh Mạng cho xây lại thành Gia Định trong thôn Nghĩa Hòa, huyện Bình Dương. Dân số Gia Định vào thời Gia Long có chừng khoảng 28.200 người, đến cuối đời Minh Mạng lên đến 32.800 người, thống kê trước năm 1975 Gia Định có khoảng 900.000 dân. Bây giờ thì không biết dân số hiện tại là bao nhiêu. Dưới thời Minh Mạng, các vùng bây giờ là Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Bình Dương, và một phần của Tân An đều thuộc về đất Gia Định. Ngày đó tất cả các chợ Bến Thành(52), chợ Bến Sỏi(53), chợ Tân Cảnh(54), chợ Điều Khiển(55), chợ Nguyễn Thức(56), chợ Thị Nghè, chợ Sài Gòn(57), vân vân, đều nằm trong phạm vi tỉnh Gia Định. Đất Gia Định xưa là nơi sản sanh chẳng những thi nhân mặc khách, mà còn sanh ra những võ tướng đã từng theo phò tá Gia Long như Võ Tánh, Phạm Đăng Hưng, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Tống Viết Phước, Trương Phúc Luật...
Năm 1836, vua Minh Mạng lại cho đổi tỉnh Phiên An ra làm tỉnh Gia Định, lỵ sở được đặt tại Sài Gòn. Thời đó, tỉnh Gia Định có 3 phủ gồm 7 huyện:

1) Phủ Tân Bình có 3 huyện là Bình Dương, Tân Long và Bình Long.

2) Phủ Tân An có 2 huyện là Thuận An và Phước Lộc.

3) Phủ Tây Ninh có 2 huyện là Tân Ninh và Quang Hóa. Huyện Tân Ninh đặt huyện lỵ tại vùng Tây Ninh bây giờ, và huyện Quang Hóa đặt huyện lỵ tại làm Cẩm Giang. Dinh Phiên Trấn vốn là thủ phủ của miền Nam vào thuở cha ông chúng ta mới mở cõi về phương Nam. Trải qua các triều đại, địa danh dinh Phiên Trấn đã từng thay đổi từ Phiên Trấn dinh, Phiên An trấn, Gia Định Thành và tỉnh Gia Định. Lịch sử mở cõi đất Gia Định gắn liền với lịch sử Nam Tiến của dân tộc Việt Nam, nên khi chúng ta nói về Gia Định là chúng ta đang nói về một địa danh mà tầm quan trọng của nó cũng không kém gì các địa danh Thăng Long (bây giờ là Hà Nội) và Thuận Hóa (bây giờ là Huế). Nếu Thăng Long là linh hồn của vùng đất thiêng Bắc Hà, và nếu Thuận Hóa là cố đô, là đất dựng cờ của dòng họ Nguyễn đi về phương Nam, thì Gia Định phải là địa linh của miền Nam. Địa danh nầy không còn đơn thuần chỉ nói đến tỉnh Gia Định ngày nay hay dinh Phiên Trấn ngày xưa, mà nó là biểu tượng, là linh hồn của vùng đất phương Nam. Nên chi khi chúng ta nói về Gia Định, chúng ta không đơn thuần nói về đất Đồng Nai, mà chúng ta còn có ý khơi dậy sức sống mãnh liệt của cha anh chúng ta thời mở cõi Đồng Nai-Cửu Long. Thời nầy tỉnh Gia Định trải dài theo bờ sông Sài Gòn trên chiều dài hơn 100 cây số từ ranh giới tỉnh Tây Ninh đến tận cửa biển Cần Giờ(58), phía Bắc giáp Sài Gòn và Biên Hòa, tại vùng mà bây giờ là Thủ Dầu Một, nam giáp Gò Công và Biển Đông, phía tây giáp Chợ Lớn, Long An, và Tây Ninh(59), và phía đông giáp Biên Hòa và Bà Rịa. Diện tích của tỉnh Gia Định (theo La Cochinchine năm 1921) là 180.000 mẫu Tây. Đất đai tỉnh Gia Định chia làm hai vùng rõ rệt: vùng thấp phù sa mầu mỡ dọc theo bờ sông Sài Gòn chạy ra đến biển, vùng này sản xuất lúa gạo cũng như thủy sản và hải sản, tuy nhiên hãy còn rất nhiều đầm lầy hoang vu gần biển chưa được khai khẩn; vùng cao là vùng đất pha cát nằm về phía bắc chạy dài đến Biên Hòa và Tây Ninh, vùng này chuyên sản xuất rau quả, thuốc lá, cau, dừa, tiêu, bắp, các loại đậu và mía làm đường để cung cấp cho nhu cầu của vùng Sài Gòn. Về phía đông bắc của Gia Định thời Pháp thuộc, hãy còn nhiều mảng rừng nhỏ trồng cao su. Gia Định là một trong những tỉnh kỳ cựu nhất của Nam Kỳ. Trước thời Nam Kỳ Lục Tỉnh thì Gia Định là thủ phủ của thành Phiên An.

Dưới thời Tự Đức, nhà vua đặc biệt để ý đến Gia Định sau những biến cố dồn dập cho miền đất nầy, từ lúc Lê văn Khôi đứng lên chiêu tập binh mã chống lại sự bạo ngược của triều đình Minh Mạng. Ngay từ khi quan Tả Quân Lê văn Duyệt không đồng ý với Gia Long trong việc phế chánh lập thứ(60), Minh Mạng đã đem dạ oán thù quan Tả Quân, nên ngay sau khi quan Tả Quân từ trần vào năm 1832, Minh Mạng đã cho xiềng mã của ngài với 8 chữ đề : “Quyền Yểm Lê văn Duyệt phục pháp xứ”, có nghĩa là nơi đây là chỗ quan hoạn lộng quyền Lê văn Duyệt chịu hình phạt theo phép nước. Bởi lẽ đó mà con nuôi của Lê văn Duyệt là Lê văn Khôi mới nổi lên bắt quan Bố Chánh Bạch Xuân Nguyên và chiếm cứ thành Gia Định. Năm 1851, vua Tự Đức cử Nguyễn Tri Phương vào Nam làm quan Kinh Lược Đại Sứ Nam Kỳ, có Phan Thanh Giản và Phạm Thế Hiển phụ tá. Ba vị nầy đã áp dụng chính sách khai khẩn đồn điền một cách khôn khéo đã khiến cho miền đất Gia Định khởi sắc hẳn lên, nhưng chưa được bao lâu thì giặc Pháp đã kéo đến xâm chiếm miền Nam. Ngày 2 tháng 2 năm 1859, Hải quân Trung tướng Pháp Rigault de Genouilly đã đem binh thuyền vào cửa Cần Giờ bắn phá các pháo đài hai bên bờ sông Đồng Nai, rồi đổ bộ lên đánh phá thành Gia Định. Với tất cả các bản đồ xây cất thành Gia Định trong tay, Rigault de Genouilly tiến chiếm thành Gia Định không mấy khó khăn, mặc dầu quân Nam đông hơn quân Pháp rất nhiều. 

***

Để tiện theo dõi "Đất Phương Nam 1", kính mời Quí Độc Giả mở Link bên dưới:https://huynhhuuduc.blogspot.com/p/blog-page_53.html

****