Thứ Tư, 23 tháng 5, 2018

Lá Chết

(Phỏng Dịch theo  "Les Feuilles Mortes" của Jacque PréVert
                     
    Chuyện chúng mình chắc em còn nhớ
          Đôi bạn tình từ thuở thiếu thời
          Tháng năm thật đẹp trong đời
     Nay vầng dương ấm đã rời còn đâu
        Lá vàng úa nát nhầu từng đống
       Anh còn mê ôm mộng ngày nao
              Lá khô lại cứ gom vào
Mơ về kỷ niệm ngọt ngào luyến thương
    Gió cuốn trôi gió phương bắc thổi
        Đêm rét về lạnh mỗi riêng ta
            Nhớ lần em đã ngân nga
   Làm sao quên được bài ca gieo tình
           Lời ca ấy đưa mình gần lại
       Chuyện lứa đôi ước mãi kề bên
        Cầu cho hạnh phúc vững bền
  Đôi ta đắm đuối bỏ quên tháng ngày
        Làm sao biết đời này suôn sẻ
    Luôn chia lìa những kẻ đang yêu
          Ví như biển cả sớm chiều
   Âm thầm xoá hết bao điều cát lưu
    Từng bước mỏi sầu ưu đeo nặng
          Lá úa vàng lại lặng lẽ rơi
      Tiếc thương kỷ niệm chẳng rời
Yêu nhau thầm hứa một lời thuỷ chung
     Ôi cuộc sống vô cùng hạnh phúc
     Nàng diễm kiều cuốn hút hồn ta
            Sao em lại muốn anh xa
  Thời gian tươi đẹp mặn mà bên nhau
     Nắng sáng hồng mai sau khó thể
         Em dịu hiền anh để vào tim
             Tình ca đâu đã dễ tìm
     Như bài hát cũ nào im trong lòng
                               Quên Đi phỏng dịch

*** 

Thứ Ba, 22 tháng 5, 2018

Bà Chúa Bèo



Ngày xửa ngày xưa ở một làng nọ có một cô bé hiền lành, chịu thương chịu khó. Một ngày cô ngồi ở bờ ruộng lặng nhìn những cây lúa nghẹn đòng ở ruộng nhà. 
Cô thương cho lúa và lo cho gia đình mình. Năm nay mất mùa thì lại bữa cơm bữa cháo! 
Cô nhìn cánh đồng làng rộng thẳng cánh cò bay. Ðất bạc màu, lúa ốm yếu, xanh một màu vàng vọt.
Cô thương cho lúa và lo cho làng xóm. Năm nay mất mùa thì lại có người chết đói! 
Cô ôm mặt khóc. Bỗng Bụt hiện ra sáng lòa, hỏi: 
– Tại sao con khóc? 
Cô bé vừa mếu máo vừa thưa: 
– Con khóc vì con thương cây lúa nghẹn đòng. 
– Nhưng nước mắt của con có làm cho cây lúa trổ bông, sây hạt được đâu? 
Nghe Bụt nói thế, cô bé càng khóc to hơn. Bụt lại hỏi: 
– Con có muốn cứu lúa không? 
– Dạ, có. 
– Muốn cứu lúa, thì con phải đưa cho ta một vật gì con quý nhất.  
Cô bé nhìn áo mình thì áo nâu vá, sờ vào túi thì túi nhẵn không, nhòm vào giỏ thì giỏ chỉ có mấy con cua vừa mới bắt được. Sực nhớ đến đôi hoa tai bằng ngọc quý, cô vội gỡ ra, rồi hai tay dâng lên Bụt:
– Thưa Bụt, con chỉ có đôi bông tai hoa dâu, mẹ con trước khi chết đã trao lại. Mẹ con dặn rằng: “Bông hoa tai ngọc này là của quý của dòng họ ta đấy”. 
Nói đến đây, cô bé ngừng lại. Bụt giục nói tiếp. Cô bé nhìn đôi hoa tai lóng lánh: 
– Mẹ con còn bảo: “Dòng họ có lời nguyền hễ ai được đeo hoa tai mà làm mất hoặc đem bán đi, thì người đó suốt đời sẽ bị dòng họ xa lánh, hắt hủi, suốt đời sẽ sống một cuộc sống lẻ loi, buồn tủi”. 
– Con đưa cho ta vật quý, con không sợ bị trừng phạt sao? 
Nhìn ruộng lúa nhà mình, nhìn cánh đồng làng, cô bé mạnh dạn thưa: 
– Ðể cứu lúa, con xin chịu trừng phạt. 
Cô bé quỳ xuống, hai tay dâng đôi hoa tai lên cho Bụt. Bụt nâng cô bé dậy, chỉ vào một đám ruộng nước, bảo: 
– Con hãy ném đôi hoa tai bằng ngọc quý này xuống ruộng kia! 
Cô bé làm ngay theo lời Bụt. Lạ chưa! Bông hoa tai sáng rực lên một mầu xanh rồi chìm xuống nước. Sau đó nổi lên một cây bèo hình hoa dâu, giống hệt hoa tai của cô bé. 
Bụt bảo: 
– Con hãy nhân cây bèo lên hàng triệu triệu cây mà bón cho lúa. Lúa sẽ xanh, hết nghẹn đòng, sây hạt, nặng bông. Con xuống ruộng, đụng vào cây bèo đi! Khi nào con làm cho cánh đồng làng này xanh tốt, dòng họ sẽ rút lời nguyền cho con. 
Dứt lời, Bụt biến mất. Cô bé xuống ruộng, đụng vào cây bèo xanh mượt. Hễ đụng vào một cây hóa thành hai, đụng vào hai cây, hóa thành bốn, đụng vào bốn cây, hóa thành tám. Thoạt đầu, cô lấy một ngón tay đụng vào bèo, dần dần lấy cả năm ngón tay rồi cả bàn tay mà nhân bèo. Cô mải mê làm đến chiều tối, bèo đã xanh kín cả ruộng. Hôm sau, cô lại đem một ít bèo sang ruộng bên cạnh, và cứ thế nhân lên. 
Ruộng nào có bèo hoa dâu, thì lúa xanh tốt, mập khỏe hẳn lên. Dân làng thấy thế, ai cũng mừng rỡ và cùng cô bé ra sức nhân bèo. Chẳng bao lâu, cả cánh đồng mênh mông được phủ một lớp bèo hoa dâu xanh mượt. 
Mùa năm ấy, lúa chín vàng trĩu hạt. Dân làng chung quanh thấy bón bèo hoa dâu lúa tốt, đến mua giống. Bèo hoa dâu dần dần lan rộng ra nhiều làng, nhiều huyện. 
Một hôm, bố nhìn hai tai cô bé, hỏi: 
– Ðôi hoa tai ngọc của con đâu rồi? 
Cô bé cúi đầu, ngập ngừng, rồi kể hết cho bố nghe câu chuyện cô ngồi Khóc thương lúa và gặp Bụt. Bố cảm động, ôm con vào lòng, nói: 
– Bụt nói đúng. Dòng họ, dân làng nhờ con mà được ấm no, dòng họ sẽ bỏ lời nguyền, và thương con, yêu con mãi mãi. Ngày nay, không phải chỉ có một đôi hoa tai làm đẹp cho một người mà có hàng triệu triệu hoa tai làm cho mọi người ấm no. 
Người ta kể lại rằng: sau khi cô chết, để tỏ lòng nhớ ơn cô, dân làng La Vân, tỉnh Thái Bình lập đền thờ và gọi cô là: “Bà Chúa Bèo“.

Nguồn: Truyện cổ tích Tổng hợp.

Thứ Hai, 21 tháng 5, 2018

Mất Nhau


Trời Vĩnh Long có còn ấm không em
Ta tiễn nhau sao nắng rũ bên rèm
Rồi mai đây một mình nơi đất khách
Như mây ngàn lặng lẽ chốn trời xa
Nhìn tuyết rơi em nhớ gì không nhỉ
Hay đã quên cái nóng ở quê nhà
Và cũng sẽ quên thời gian cũ kỹ
Để đi tìm những mới mẻ phương nao
Trời Vĩnh long buồn chán lắm hay sao
Nên có kẻ bỏ qua vùng kỷ niệm
Khi quay lưng vứt dĩ vãng êm đềm
Và thay đổi sắc đời nơi xứ khác
Anh đờ đẫn nhìn trời đêm ngơ ngác
Nghe muông trùng đang rên rỉ từng cơn
Như tiếng than theo gió của ai hờn
Anh cảm nhận mình chia ly mãi mãi.
Cảnh nơi này nào khác cảnh năm xưa
Sao không thể níu chân người ở lại
Nói gì thêm khi hồn đà tê tái
Mất thật rồi giờ thật đã mất nhau.
                                    Quên Đi


Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2018

Từ Biên Trấn Bình Thuận Đến Tỉnh Bình Thuận P1

 
Cư Dân Bình Thuận:

Mặc dầu trong toàn tỉnh Bình Thuận ngày nay có trên 30 sắc dân cư trú; tuy nhiên, đông đảo nhất là 6 sắc dân: Việt, Champa, Hoa, Raglai, Koho, và Tày. Trong số nầy, dầu không đông như người Việt, nhưng người Champa luôn tạo cho vùng Bình Thuận một sắc thái hết sức đặc biệt. Tỉnh Bình Thuận xưa kia là lãnh địa của vương quốc Champa, nên dầu ngày nay vương quốc ấy không còn nữa nhưng cư dân Champa hiện vẫn còn trú ngụ trong địa bàn tỉnh Bình Thuận rất đông. Vào năm Đinh Sửu 1697, khi quan Chưởng Cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vâng mệnh chúa Nguyễn vào Bình Thuận thiết lập bộ máy hành chánh, thì tại đây đang có rất nhiều cư dân bản địa người Champa, với các cơ sở tín ngưỡng tôn giáo như các đền miếu, cả Ấn Độ giáo lẫn Hồi giáo. Ngay sau khi nền hành chánh Việt Nam được thiết lập, rất nhiều cư dân Việt Nam và người Hoa đổ xô về Bình Thuận lập nghiệp. Người Việt sống tập trung ở các vùng ven biển, một số làm rẫy, số còn lại thì làm nghề đánh cá biển. Trong khi đó, người Hoa thì sống tập trung tại các vùng đô thị, đa số làm nghề trao đổi mua bán. Còn người Champa thì sống tập trung thành từng làng, một số làm ruộng, số khác làm các ngành nghề thủ công nghệ như gốm sứ hay dệt thổ cẩm. Đặc biệt, nếp sống của người Champa tại Bình Thuận rất khép kín, họ không muốn sống hòa nhập với các cộng đồng người Việt hay người Hoa. Thêm vào đó, hai bên đường vào làng của người Champa có nhiều vườn nho nối dài, bên trong làng chung quanh mỗi nhà đều có một bức tường đá hay tường gạch bao bọc, khiến cho nếp sống của người Champa càng trở nên khép kín hơn. Người con gái Champa khi đến tuổi thành hôn, lấy chồng phải ra ở riêng, nhưng chỗ ở mới cũng nằm trong khuôn viên của đại gia đình theo truyền thống từ bao đời nay. Theo thống kê năm 2009, tổng dân số Bình Thuận vào năm 2009 đã lên đến 1.136.773 người.

Di Tích Lịch Sử Của Tỉnh Bình Thuận:
Ngay khi còn trực thuộc vương quốc Champa, Bình Thuận đã là một vùng đất nổi tiếng là chốn rừng tiền biển bạc. Đến khi Bình Thuận được sáp nhập vào triều đình xứ Đàng Trong vào năm 1693, triều đình chiêu mộ lưu dân từ các vùng biển “Ngũ Quảng” của miền Trung(5) tới Bình Thuận để khai phá những vùng đất hãy còn hoang vu, vì bị người Chăm bỏ phế lâu ngày. Những lưu dân từ Ngũ Quảng đến đây đã thành lập những khu “Vạn Chài” ven biển. Một trong những khu “Vạn Chài” lớn nhất và giàu nhất tại Phan Thiết trước năm 1975 là khu Vạn Thủy Tú, một làng đánh cá nằm ngay cửa sông Mường Mán. Đây là một trong những “Vạn Chài” cổ xưa nhất của tỉnh Bình Thuận, nằm trên bến Ngư Ông, thuộc phường Đức Thắng. Có thể nói, lịch sử của Vạn Thủy Tú cũng là lịch sử thành hình của vùng Phan Thiết-Bình Thuận. Dinh Vạn Thủy Tù được xây dựng vào năm 1762, theo tập tục thì hàng năm Vạn Thủy Tú có bốn lần cúng vía chính(6) như “Tế Xuân”, “Hạ Nghệ”, “Tế Thu”, và “Mãn Mùa”. Hiện tại, tại Vạn Thủy Tú còn lưu giữ nhiều bộ xương cá ông, trong đó có một bộ rất lớn đã được dân địa phương bảo quản kỹ càng trên 200 năm nay, theo các nhà khảo cổ học, thì đây là bộ xương cá ông lớn nhất vùng Đông Nam Á. Tại Vạn Thủy Tú còn lưu giữ nhiều bản sắc phong của các đời vua, trong đó có bản hơn 150 năm tuổi, và một chuông đồng được đúc năm Tự Đức thứ 25. Đây là một trong những di tích lâu đời nhất trong lịch sử mở đất về phương Nam của dân tộc Việt Nam.

Về phía Nam của Bình Thuận, trong khu rừng Bầu Cát, thuộc xã Tân Hải, huyện Hàm Tân, cách thành phố Phan Thiết chừng 70 cây số về hướng Đông Bắc, còn có Dinh Thầy Thím, cũng đã được xây dựng lâu đời. Theo truyền thuyết, dưới thời các chúa Nguyễn có hai vợ chồng vị quan nọ bị kết án oan và bị chôn tại đây. Từ đó dân chúng trong vùng luôn chứng kiến sự hiển linh của “Thầy Thím” (dân trong vùng gọi hai ngôi mộ nầy là mộ Thầy Thím), và người ta thường thấy một đôi hổ thường xuất hiện nằm bên mộ của Thầy Thím. Đến năm Thành Thái thứ 18 (1906), nhà vua hạ chỉ xóa án cũ và truy phong cho Thầy Thím là “Chí Đức Tiên Sinh” và “Chí Đức Nương Tôn Thần”. Sau đó dân địa phương tôn kính Thầy Thím như thành hoàng của làng, nên lập đền thờ. Từ đó đến nay Dinh Thầy không ngớt khói hương vì chẳng những dân địa phương sùng bái mà khách thập phương cũng rất tôn kính uy danh của Thầy Thím. Trong quận Tuy Phong, xã Bình Thạnh, các Phan Thiết khoảng 100 cây số về hướng Nam, có một ngôi Cổ Thạch Tự, nằm sâu trong núi, còn được dân địa phương gọi là Chùa Hang. Theo lịch sử Phật Giáo thì ngôi chùa nầy do Thiền sư Bảo Tạng khai sơn vào năm 1835, dưới thời vua Minh Mạng.

Trong thôn Phú Mỹ(7), quận Tuy Phong có một ngôi miễu có tên là ‘Miễu Bà Chúa’. Tương truyền ‘Bà Chúa’ là công chúa vương quốc Champa. Kể từ năm 1653 thì vương quốc Champa chỉ còn lại phần đất từ sông Phan Lang, tức sông Cả trở vào đến vùng La Gi (Bình Thuận). Tuy nhiên, đến năm 1693 thì vương quốc nầy mất hẳn và phần lãnh thổ còn lại cũng bị bị sáp nhập vào xứ Đàng Trong. Trong 40 năm sau cùng nầy người Champa phải hai lần dời đô, lần đầu dời về Quang Hoa (quận An Phước), và lần sau cùng vua Bà Tranh dời đô về Phan Rang, rồi mất ngôi tại đây. Người ta không biết bà công chúa nầy là con của vị vua nào, và bà phạm tội gì mà phải bị đày ra một hải đảo xa xôi như vậy. Theo các kỳ lão người Champa tại Phan Thiết thì bà công chúa nầy sanh ra vào hậu bán thế kỷ thứ XVII, bà đã đến hải đảo nầy và sống chung với một số dân chày tại đây. Khi bà qua đời, dân chày thương mến nên lập miễu thờ bà. Họ tin tưởng nhờ nơi sự hộ trì của bà mà họ đã thoát được rất nhiều tai nạn trên biển. Ngày nay, hàng năm dân chày tại đây cử hành lễ cúng tế bà rất long trọng trong suốt tháng tư âm lịch.

Khi tới Bình Thuận, nhìn vào cách kiến trúc nhà cửa là mình có thể biết ngay khu đó của sắc dân nào. Kiến trúc nhà cửa của người Champa xưa được coi là có mỹ thuật, nổi bật với những tháp xây bằng đất đỏ nung, chịu nắng chịu mưa rất bền. Kỹ thuật chạm trổ Champa rất điêu luyện với những đường nét của văn hóa Sa Huỳnh cổ kín. Hiện nay, tại thôn Tịnh Mỹ, xã Phan Thanh, huyện Bắc Bình hãy còn lưu giữ rất nhiều những di vật của triều đại các vua Champa cuối cùng, đặc biệt là những di vật bằng vàng như vương miện, bông tai, vòng xuyến, và áo bào của vua Pô Klong Mơh Nai và hoàng hậu Pô Bia Sơm. Hiện tại, tại thôn Thanh Hiếu, xã Thanh Hiệp, huyện Bắc Bình, cách thành phố Phan Thiết chừng 68 cây số, có ngôi đền thờ vua Pô Nít. Vua Pô Nít là một trong những vị vua cuối cùng của vương quốc Champa. Ông lên ngôi năm 1603, đến năm 1613 thì nhường ngôi cho em trai là Pô Chai Pran. Trước đây, đền được xây dựng trên một ngọn đồi cát bên cạnh sông Cái, đoạn nối dài của sông Lũy, cũng giống như đền thờ vua Pô Klong Mơh Nai, trong thời chiến tranh chống Pháp, đền bị phá hủy nên về sau nầy người ta dời đền về vị trí hiện nay. Tổng thể ngôi đền có ba gian giống như một ngôi chùa Việt Nam; ngôi giữa thờ tượng vua Pô Nít, tượng được chạm trổ hết sức tinh vi, tượng được đặt trên bệ thờ có hình yoni(8), và tượng vua Pô Nít tựa lưng vào là biểu tượng của một linga(9); gian bên cạnh là tượng thờ của một bà hoàng hậu người Champa tên Pô Mưk Cha, kế đó là tượng thờ của một bà hoàng hậu người Việt(10), cùng một số người trong hoàng tộc; gian bên kia thờ một phiến đá, tượng trưng cho một vị tướng tên Pô-Kay, người theo đạo Hồi. Tại đền thờ vua Pô Nít hầu như hàng năm có rất nhiều lễ hội. Trong các lễ hội đều có lễ rước sắc phong của triều Nguyễn, lễ tắm tượng, và lễ ca múa hát cho người Champa. Đến kỳ lễ hội, người ta thấy đồng bào Champa từ khắp nơi thường hay ăn mặc trang phục rực rỡ, hội tụ về đây dự lễ. Riêng tại đồi cát Lương Bình, xã Lương Sơn, cách huyện Bắc Bình khoảng 15 cây số, và cách thành phố Phan Thiết khoảng 50 cây số về hướng bắc, hiện còn đền thờ vua Pô Klong Mơh Nai, một trong những vị vua cuối cùng của vương quốc Champa. Vua Pô Klong Mơh Nai lên ngôi khoảng đầu thế kỷ thứ XVII, đến năm 1627 thì nhường ngôi cho con rể là Pô Klong Ga Hul. Vào thế kỷ thứ XIX, ngôi đền nầy bị cháy, nhưng sau đó đã được đồng bào Champa tại đây xây dựng lại để thờ phụng, lần trùng tu mới nhất là vào năm 2001. Ngày nay, hàng năm cứ vào ngày lễ hội Katê, vào tháng 7 lịch Champa, hậu vệ của vua Pô Klong Mơh Nai hợp cùng với đồng bào Champa khắp nơi hội tụ về đây tổ chức những lễ cổ truyền Champa.
***
Để tiện theo dõi "Đất Phương Nam 1", kính mời Quí Độc Giả mở Link bên dưới:

***

Thứ Tư, 16 tháng 5, 2018

Kim Tỉnh Oán - Thơ Tùng Thiện Vương

Thơ Tùng Thiện Vương

  金井怨               KIM TỈNH OÁN

美人照金井,   Mỹ nhân chiếu kim tỉnh,
井底華顏冷。   Tỉnh để hoa nhan lãnh.
空房夜不歸,   Không phòng dạ bất quy,
月轉梧桐影。   Nguyệt chuyển ngô đồng ảnh.
Dch nghĩa :
Người đẹp soi giếng vàng 
Đáy giếng lộ ra dung nhan lạnh nhạt 
Phòng không đêm không (dám) về (ngủ) 
Trăng chuyển bóng ngô đồng
Dịch Thơ :
     Nỗi Oán Nơi Giếng Vàng
Giếng vàng người đẹp mặt gương soi,
Đáy nước dung nhan thấy kém rồi.
Trở lại phòng không đêm chẳng dám
Ngô đồng bóng chuyển ánh trăng lơi.
                                    Mailoc
 Giếng vàng người đẹp soi
Dung nhan kém tươi rồi,
Phòng không về chẳng dám
Ngô đồng bóng trăng lơi.
                    Mailoc

***
KHÚC OÁN THAN NƠI GIẾNG VÀNG

(1)
Người đẹp soi gương mặt giếng vàng
Thấy mình tiều tụy mảnh dung nhan
Đêm về phòng chiếc khôn yên giấc
Nhìn bóng ngô đồng trăng tỏa lan.

(2)
Mỹ nhân soi mặt giếng vàng
Nhìn trong đáy nước dung nhan héo tàn
Phòng đơn đêm lạnh bẽ bàng
Ngô đồng soi bóng mơ màng dưới trăng.
                    Phương Hà phỏng dịch
***
CHÚ THÍCH :
 * Kim Tỉnh : Giếng vàng, là giếng của các nhà quyền qúy, trên mặt miệng giếng có dát vàng. Trong Kiều khi chuyển mùa Nguyễn Du cũng đã viết :
                     Thú quê thuần hức bén mùi,
                 Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô.

 * Hoa Nhan : là dung nhan của tuổi hoa niên, chỉ nét mặt son trẻ.

DIỄN NÔM :
                    Người đẹp soi giếng vàng,
                    Dưới giếng dung nhan lạnh.
                    Phòng không cũng chẳng màng,
                    Trăng soi ngô đồng ảnh.

 Lục Bát :
                Săm soi người đẹp giếng vàng,
                Lạnh lùng nhan cắc ngỡ ngàng tái tê.
                Phòng không đêm chẳng buồn về,
                Ánh trăng lay động đã xê ngô đồng !
     
                                             Đỗ Chiêu Đức
***
                Kim Tỉnh Oán

     Giếng vàng người đẹp thay gương
Nhìn từ mặt nước má hường nhạt phai
       Phòng không đêm vắng thiếu ai
Ngô đồng bóng chiếc ngã dài theo trăng
                                       Quên Đi

***

Thứ Ba, 15 tháng 5, 2018

Sự Tích Cây Chuối


Ngày xưa, rất xưa, cứ ba năm một lần. Thần Cây lại mở cuộc thi cây. Các con của Thần, cứ ba năm một lần, lại mang về những giống cây mới để Thần chấm giải. Lần thi ấy, người con út của Thần Cây tên là Tiêu Lá vừa lấy vợ và Sinh được đứa con trai đầu lòng rất xinh đẹp. Tiêu Lá yêu quý con, suốt ngày cứ ngắm nó mãi không chán. Một hôm, đang ngắm con, Tiêu Lá bỗng nảy ra cái ý định sẽ tạo nên một giống cây vừa bụ bẫm và xinh đẹp như con vừa có thể cho con nhiều thứ vui chơi và có quả ngon thơm nuôi con chóng lớn. Tiêu Lá nghĩ ra một giống cây hoàn toàn mới lạ. Thân của nó sẽ tròn trĩnh như tay chân của con, mát mẻ như da thịt của con. Lá của nó sẽ không nhiều nhưng rất to và nhìn giống như những cái lông chim khổng lồ buộc túm lại xòe ra bốn phía. Lên năm, lên sáu, con có thể bẻ từng lá che đầu đi chơi không sợ mưa, không sợ nắng. Quả của cây sẽ giống như ngón tay con trẻ và sẽ xếp thành dài dọc theo sống lá. Đến lúc chín quả sẽ thơm ngọt như có mùi sữa và mật quyện vào nhau. Con lớn lên chỉ cần với tay là hái được quả, bóc lấy mà ăn.

Nhưng có một điều đáng lo ngại là năm đó tự nhiên có một con chim ác xuất hiện. Nó to lớn, lông rằn ri như vảy rắn. Từ một nơi nào đó rất xa bay đến, nó chuyên lấy cắp những hạt giống của các thứ cây quý rồi bay đi. Vậy thì làm thế nào để cho giống cây mới của mình không bị con chim ác kia đánh cắp được? Tiêu Lá bèn nghĩ ra cách không cho giống cây mới Sinh ra cây con bằng hạt mà Sinh ra từ gốc, từ củ. Để trêu con chim ác, Tiêu Lá vẫn cho quả giống cây có hạt, nhưng hạt ấy dù có gieo xuống đất, có chăm sóc mấy, nó cũng chẳng bao giờ nảy mầm và Sinh ra cây con.

Con chim ác hình như đoán biết điều ấy. Nó bèn tìm cách phá hoại cây. Những quả đầu tiên của giống cây quý Tiêu Lá đã tạo nên, vừa đón đủ nắng để chín thì con chim ác đã bay tới. Nó chỉ bay tới trong đêm. Cái mỏ to quặm và sắc nhọn của nó mổ phá ngay những quả quý của Tiêu Lá. Tiêu Lá giận lắm. Đêm đến, Tiêu Lá cứ thức và rình chộp bắt cho được con chim ác nọ. Nhưng nó cũng tinh khôn vô cùng. Nó đánh hơi rất tài. Biết có Tiêu Lá rình nấp và đang thức, nó chỉ bay vụt qua rồi biến mất. Nhưng khi chàng vừa chợp mắt ngủ quên là nó đã lao đến mổ phá những quả quý kia ngay… Tiêu Lá đành phải cố thức suốt cả đêm. Có một lần, vừa chợt tỉnh giấc. Tiêu Lá đã suýt chộp được con chim ác nọ. Không may cho Tiêu Lá là chàng chỉ chộp được một túm lông và con chim ác đã vẫy vùng bay thoát. Nhưng từ đó, nó rất sợ hình dáng cái bàn tay của Tiêu Lá chộp nó. Tiêu Lá đoán biết được điều này và lập tức chàng nảy ra một ý định mới. Chàng sẽ không cho những quả cây quý ấy xếp dọc từng quả một theo gân lá nữa. Chàng sẽ xếp chúng lại thành từng khóm, giống hệt hình các bàn tay xòe ra như để sẵn sàng vồ lấy con chim ác. Và những bàn tay bằng quả ấy, cứ xếp xoay tròn, bàn này ở trên, bàn kia ở dưới, nối tiếp nhau…

Con chim ác quả nhiên không dám bay đến phá phách nữa. Mà hình dáng những quả cây quý xếp theo cách ấy nhìn cũng rất đẹp rất vui, vì nó giống như bàn tay của con trẻ đang xòe múa. Tiêu Lá rất vui lòng. Con trai của chàng cũng rất thích. Tiếng trống báo mùa thi cây đã đến, vang lừng khắp cả gần xa. Những người anh của Tiêu Lá từ các nơi đã lục tục mang cây về dự giải. Thôi thì đủ các hình dáng, đủ các màu sắc, đủ các hương vị, cây to, cây nhỏ, quả ngọt, quả chua… Tiêu Lá là người mang cây đến sau cùng nên giống cây của chàng được xếp ở hàng cuối. Đến sáng ngày thi, Thần Cây râu tóc bạc trắng, tươi cười từ trên núi cao đi xuống. Thần rất vui mừng vì kỳ thi này tất cả ba mươi sáu người con của Thần đều đủ mặt và người nào cũng đều mang những giống cây mới về dự. Thần Cây dừng lại trước từng giống cây một, nghe từng người dự giải nói về cái hay, cái quý của giống cây mình mới tạo nên. Thần Cây càng xem càng vui, nét mặt cứ rạng rỡ lên vì công trình của các con mình.

Nhưng phải đến lúc đứng trước giống cây rất mới lạ, vừa xinh đẹp, vừa mang đầy tình yêu thương con trẻ của Tiêu Lá, Thần Cây mới ha hả cười to lên và tuyên bố Tiêu Lá được giải nhất. Cây ấy là cây Chuối ngày nay. Nhưng tại sao lại gọi là Cây Chuối thì có lẽ vì lần ấy, hỏi xem cây nào được giải nhất, ai cũng đáp: Cây cuối! Cây cuối! (tức là xếp ở hàng cuối) nên sau này đọc chệch ra, tiếng cuối biến dần thành tiếng chuối. Còn vì sao mà những “bàn tay” chuối đến nay không phải chỉ có năm ngón, năm quả mà có khi đếm đến hàng chục, hàng hai chục thì điều ấy rất dễ hiểu: thấy các em ưa thích ăn chuối, nên các bàn tay chuối cứ tự động sinh thêm ngón, thêm quả cho các em vui lòng. Và đó cũng là một cách cây muốn tỏ ra mình rất hiểu bụng người đã tạo nên cây. Đó là lòng yêu con, yêu trẻ của Tiêu Lá, người con út của Thần Cây
 
Nguồn: Truyện cổ tích Tổng hợp.

Theo truyencotich.vn

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

Đò Chiều Cao Lãnh


Đò Chiều Cao Lãnh


Lặng lẽ con đò chở khách sang,
Bên kia lác đác khóm tre làng.
Mơ màng mái lá lam chiều quyện,
Hiu hắt cổng trường tiếng trống vang.
Cò vạc là là bờ sậy vắng,
Giòng sông lấp lánh ráng mây vàng.
Hồn quê xao xuyến tình lai láng,
Cảnh cũ tơ vò một nỗi mang.

Mailoc
3-12-18 

*** 
Các Bài Họa:

Pha Trà Đợi Bạn
 

Pha trà ngồi đợi bạn hiền sang
Gió mát miền quê cạnh giếng làng
Mây trắng trời cao chiều xuống chậm
Rộn ràng tiếng sáo mục đồng vang.
Cạnh sông lất phất bờ lau trắng
Cuối bãi nên thơ ruộng lúa vàng
Chờ mãi người về sao chẳng thấy
Buồn vương mái tóc dạ riêng mang.

Dương hồng Thủy
13/03/2018
 
*** 
Về Quê

Năm xưa nghỉ phép đợi đò sang
Từ lũy tre xanh đến xóm làng
Cô gái cười duyên dòng nước biếc
Chàng trai huýt sáo tiếng chim vang
Êm đềm sãi cánh con cò trắng
Đủng đỉnh dắt trâu sóng lúa vàng
Nhớ mẹ miền Nam nơi thảo dã
Thương cha gốc rạ nỗi riêng mang...

Mai Xuân Thanh
 
Ngày 17 tháng 03 năm 2018
***
B
ến Bắc Tân Tịch

 

Ai về Cao Lãnh một lần sang
Tân Tịch bờ kia nổi tiếng làng
Cam quít ngọt ngon vườn mát rượi
 
Cầu phà rộn rịp máy vang vang
“Chào mừng quý khách” nhà thay chủ
“Thượng lộ bình an” cám đổi vàng
Kẻ ở người đi trời đất thảm
Chung niềm bức xúc nỗi riêng mang.

Cao Linh Tử
13/3/2018
*** 

Chiều Buồn Trên Sông

Lục bình thôn ấy mới trôi sang
Dừng bến sông xưa ở cuối làng
Những chiếc đò xuôi không ghé nữa
Màu hoa sắc tím cũng hoe vàng
Lờ lững mây trời trôi lãng đãng
Xa vời tiếng sáo thoảng mênh mang
Hoàng hôn dần xuống trong cô quạnh
Một tiếng chuông chùa theo gió vang

Phương Hà
 
***
Phà Xưa Sông Hậu


Năm xưa,sông Hậu có phà sang
Tiếp nối Cần Thơ với xã làng *
Hàng quán lao xao cười rộn rả
Bán buôn nhộn nhịp tiếng rao vang
Trên bờ xe cộ,người xuôi ngược
Dưới bến bộ hành kẻ xách mang
Cảnh củ nơi đây giờ đổi khác
Cầu treo lơ lững giữa chiều vàng

songquang
3/13/18
* xã làng là xã Thành Lợi Quận Bình Minh tỉnh Vĩnh Long
***
 
Dòng Sông Tiền

Con phà Cầu Bắc chuỗi dài mang
Chuyển bến thầm mơ ngắm phố vàng
Mở hướng khơi thông đường thẳng tiến
Xuyên dòng cuộn chảy gió hoà vang
Tuổi thơ cảm khái trời quê mẹ
Sông nước hằn in những luỹ làng
Gắn mảnh hồn thương đời luỵ số
Ngậm ngùi bao nỗi lặng nhìn sang

Mai Thắng 
190314
*** 
 Hồi Tưởng

Đì đùng tiếng súng vọng đưa sang
Lửa loạn bùng lên khắp xóm làng
Ông lão mệt nhoài lê bước mỏi
Trẻ con hoảng sợ khóc la vang
Tranh quyền há sợ đồng hiu quạnh
Xáo thịt lo chi xác cháy vàng
Đã lắm đau thương sao chẳng thấy
Mồ hoang xương lạnh nỗi buồn mang.

Quên Đi 

*** 
Đò Chiều Cao Lãnh
 

Hôm xưa Cao Lãnh chuyến đò sang
Tân Tịch bờ kia tận cuối làng
Cô lái thả hồn cùng lẳng lặng
Mái chèo khua nước lại vang vang
Mênh mông cảnh vật trong chiều nhạt
Loang loáng dòng sông uống nắng vàng
Ngày ấy xa nhau và mãi mãi
Cho đời gió bụi vẫn đeo mang

Kim Phượng


***