Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

"Thằng Bờm" Bài Ca Dao Bác Học

                                                                        
                                                    
Thằng bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng bờm chẳng lấy trâu
Phú ông xin đổi ao sâu cá mè.
Bờm rằng bờm chẳng lấy mè
Phú ông xin đổi ba bè gỗ lim.
Bờm rằng bờm chẳng lấy lim
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi
Bờm rằng bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi nắm xôi bờm cười.

Năm đầu tiên trên ghế Trung Học. Tôi đã được học bài ca dao này. Tôi còn nhớ rất rõ, lúc đang học thuộc lòng, đã cười và không ngớt chê đồ ngu. Lúc đó, anh tôi tình cờ nghe:
- Học không lo học còn chê ai ngu nữa vậy?
- Thằng Bờm chớ ai
- Thằng Bờm! thằng Bờm ngu ra sao?
- Anh nghĩ coi, thằng Bờm có được cái quạt mo không giá trị mấy, vậy mà phú ông đem không biết bao nhiêu thứ có giá trị đem đổi, thế nhưng thằng Bờm không chịu đổi, khi được đề nghị nắm xôi thì khoái, đồng ý ngay. Anh thấy ngu không?
- Ngu là mầy ngu chớ không phải thằng Bờm đâu. Anh thấy mầy cần tìm hiểu thật nhiều về bài ca dao này đi.
Đúng vậy, mãi đến bây giờ, trải qua hơn nữa thế kỷ, Thằng Bờm và Nắm Xôi, Phú Ông với cái Quạt Mo, luôn khiến tôi phải suy nghĩ mỗi lần đọc bài ca dao "Thằng Bờm".
Một bài ca dao bình dân có vẻ tầm thường, nhưng lại mang nhiều ý nghĩa rất sâu sắc. Các nhà nghiên cứu đã tốn không biết bao nhiêu là giấy mực, nhưng vẫn không hề đi đến cái nhìn chung được.
Bài Ca Dao khởi đầu là cái Quạt Mo và cuối cùng là Nắm Xôi. Tất cả những diễn biến của bài ca dao này đưa ta đi đến kết luận là tiếng cười của Thằng Bờm.
Điều này cho chúng ta thấy rõ Cái cười của Bờm là trọng tâm của bài ca dao, một tiếng cười không đơn thuần là tiếng cười vô tư. Một tiếng cười ẩn chứa nhiều tâm tư nguyện vọng của người dân hiền lành chất phát, khi được đối xử công bằng.
Rất nhiều Học giả, Nhà văn đã phân tích bài THẰNG BỜM, nhất là hai nhân vật chánh: Thằng Bờm và Phú Ông.
Đa số đều nhận xét hai nhân vật đó như sau :
1) Bờm : chỉ là một đứa trẻ còn bụ sữa, có một chỏm tóc để dài che trên thóp đầu, hay còn gọi là “mỏ ác”.
Bờm đại diện cho giai cấp nông dân nghèo trong thời phong kiến, thật thà chất phát nhưng khôn ngoan, trong sạch và không ham của cải phi nghĩa, chẳng do bàn tay lao động mình làm ra.
2) Phú ông là một tên trọc phú ngu ngốc, chết mê chết mệt cái quạt mo của Bờm, nên không ngần ngại đem tài sản của mình đánh đổi.
Phú ông đại diện cho lớp địa chủ thời phong kiến, ngu muội và tham lam.
Theo ý kiến của tôi,
Bờm tuy là con một nông dân nghèo nhưng lại là một cậu bé rất dễ thương, vì vậy nên Phú ông mới trêu ghẹo cậu.
Bờm rất thông minh và có óc sáng tạo.Từ một miếng mo cau không chút giá trị, cậu ta đã cắt gọt thành một cái quạt mo xinh xinh, đến Phú Ông trông thấy là thích ngay, cố tìm cách đổi cho bằng được.
Ngoài ra Bờm cũng rất chân thật. Biết rõ cái quạt của mình không thể so với các thứ Phú Ông đem ra đổi chác, ngoại trừ nắm xôi.
Sâu xa hơn, Bờm tượng trưng cho giai cấp Nông dân, một giai cấp chiếm đa số trong xã hội thời bấy giờ. Tiêu biểu cho những người dân, tuy nghèo nhưng thông minh, cần cù, lại rất giản dị hiền lành.
Còn Phú Ông ?
Đa số các bài bình luận đều cho Phú Ông là người giàu có trong vùng, tham lam ngu dốt, khoe khoang sự giàu có của mình khi đem những của cải giá trị to lớn đổi lấy cái quạt mo.
Nhưng tôi không nghĩ vậy, Phú Ông là một người vui tánh, yêu trẻ nên đùa giỡn với Bờm, không phải kẻ tham lam, không hề dùng đến uy lực của mình để hù doạ, cướp đoạt cây quạt của Bờm mà đưa ra điều kiện trao đổi rất rõ ràng.
Phú Ông cũng không phải là người khoe khoang, vì trong vùng, ai nấy đều biết Ông là người giàu có nhất rồi, cần gì phải phô trương.
Còn Ngu dốt, lập luận này không vững chắc, một người ngu dốt không có được sự nhạy bén không đủ khả năng để làm giàu hay gìn giữ được sự giàu có của mình.
Nói chung, bản chất Phú Ông là một người tốt, trái với những nhận định của nhiều người.
Ngoài ra trong bài ca dao này, Phú ông đại diện cho giai cấp trung lưu và thượng lưu sống hòa lẫn vào đám dân nghèo. 

                                           

QUẠT MO và NẮM XÔI
1 - Quạt mo của thằng Bờm:
Quạt mo, đó là cây quạt được làm từ cái bẹ tàu cau, đúng là không có giá trị gì, nhưng nếu nhìn ở góc độ khác, quạt mo của Bờm không đơn thuần là một cái quạt tầm thường. Từ một thứ bỏ đi, người nông dân (Bờm) đã dựa vào trí thông minh, óc sáng tạo, làm thành một vật dụng hữu ích. Cây quạt ở đây mang một nghĩa cao xa hơn, đó là trí thông minh, óc sáng tạo của người nông dân.
2 - Nắm xôi của Phú Ông:
Những thứ Phú Ông đưa ra làm mặt hàng trao đổi, giá trị của món đồ từ từ giảm lần. Nắm xôi là món cuối cùng và cũng là món duy nhất, giá trị thấp nhất, Bờm không lắc đầu. Đơn giản vì tương xứng.
Xôi từ nếp mà ra, tượng trưng cho lúa. Người nông dân đã đổ bao nhiêu là mồ hôi, công sức mới có được những hạt lúa này.
Ý nghĩa thật của nắm xôi chính là công sức, là mồ hôi của những nông dân tay lấm chân bùn.
Đúng là Quat Mo có giá trị ngang với Nắm Xôi. Hay nói rõ hơn, với cái trí thông minh óc sáng tạo thì chỉ có mồ hôi và công sức mới có thể trao đổi với nhau.Còn những thứ như 3 bò 9 trâu, ao sâu cá mè.... chỉ là những của cải vật chất tầm thường thì làm sao sánh bằng.
Cái cười của Bờm cũng là cái cười của nông dân xác nhận chân giá trị của những mặt hàng đươc đem trao đổi.
Như thế bài Ca dao Thằng Bờm muốn nói lên điều gì ?
Một quan điểm từ trước đến nay được đa số chấp nhận là sự phân biệt, chống đối giai cấp giữa dân nghèo bình dân, đại diện là thằng Bờm và giới trung thượng lưu, đại diện là Phú Ông. Giới nào cũng cho rằng mình là quan trọng nhất trong xã hội.
Từ trong bài ca dao trên, tất cả những gì của Phú Ông đều không bằng một nắm xôi, nên mọi người cho rằng đây là sản phẩm của phái Trọng Nông :
"Nhất Sĩ nhì Nông, hết gạo chạy rong, nhất Nông nhì Sĩ".
Nhưng thực sự thì không hẳn vậy.
1 - Bài Ca dao trên thể hiện sự bình đẳng rất rõ ràng. Một Phú Ông, một người lớn tuổi, giàu có đầy quyền thế, nhung không hề dựa vào đó để hiếp đáp hay cướp lấy cây quạt của một đứa bé, mà đưa ra điều kiện trao đổi thật sòng phẳng, cuối cùng có thể vừa lòng cả đôi bên.
2 - Từ cái giá trị tương xứng của cây quạt và nắm xôi, thể hiện cái nhìn rất sâu sắc về quan niệm sống trong xã hội của người dân Việt ta. Đó là sự hợp lý, món đồ nào có cái giá trị riêng của nó, mỗi người sống trong xã hôi đều chấp nhận và làm tròn công việc của mình hưởng thành quả tương đương với khả năng công sức của bản thân.
3 - Qua hình ảnh vui vẻ của Phú Ông và Bờm, chúng ta không hề thấy có sự đố kỵ hay ganh ghét nào. Nói đúng hơn là sự hòa đồng đùa vui của hai giai cấp, thể hiện qua tiếng cười của Bờm ở câu cuối và cũng là tiếng cười của chính chúng ta, một tiếng cười vui tươi thoải mái sau khi đọc hết bài ca dao này.
                                                                                            Huỳnh Hữu Đức


Gió Tây Lạnh Lùng




Tình cảm con người nói chung, tình yêu trai gái nói riêng sao mà mặn nồng say đắm.

  Nhớ ai ngơ ngẩn ngẩn ngơ
Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai


Thật là cảm động, đầy sự trìu mến, yêu thương, quyến luyến...

Trong kho tàng ca dao của dân tộc ta, có rất nhiều những điệu hò, câu hát về tình yêu trai gái. Nhưng cảm động nhất, tha thiết nhất, thể hiện tình yêu sâu đậm nhất...có lẽ là cảnh chia tay của đôi lứa.
Xin giới thiệu ra đây phần nào nỗi lòng của người con gái, khi đưa tiễn người yêu qua đôi câu ca dao chất phát, mộc mạc nhưng thật dễ thương và sâu sắc.


xXx

Chàng từ miền xa đến, nàng như đoá hoa rừng hương sắc. Có phải nợ chăng mà trầu nay đã bén duyên cau. Thế là đôi trái tim cùng hoà nhịp yêu đương. Để rồi chàng về thì không nỡ mà ở thì không đành

      Ra đi anh nhớ vợ nhớ con
Ra về thì nhớ nước non trên rừng..


Khiến nàng càng đau xót

              Cầm dao cắt đứt ruột ra
Ruột đau cho mấy không bằng xa nghĩa chàng!


Tìm đủ mọi lý lẽ..Đường xa vời vợi, đêm khuya vắng lặng... mong chàng hãy vì lời thệ ước mà ở lại. Lòng chàng đã quyết, thiếp chỉ còn biết thở biết than.

     Anh ơi muôn dặm đường xa
Để em ôm bóng trăng tà năm canh!


Hay là

        Gió vàng hiu hắt đêm thanh,
Đường xa, dặm vắng xin anh đừng về
         Mảnh trăng đã trót lời thề,
  Sao anh để gánh nặng nề riêng em.


Nhưng ý chàng trai khó thay, biết rằng không thể, đành để người ra đi, với đôi lời nhắn nhủ

        Anh về em mượn khăn tay
Gói câu tình nghĩa lâu ngày sợ quên.


Lưu luyến bịn rịn nhưng không thể giữ chàng, cô gái chỉ mong

   Anh giơ khăn trắng em cầm,
Mai sau về trển gối đầu lấy hơi.


Còn gì trống trải hơn khi người tình rời xa

    Đêm khuya trăng lặn gà kêu,
Anh về ở dưới bỏ gối thêu ai nằm


Để rồi mỗi khi đêm về, nửa giường nửa chiếu giờ thiếu bóng dáng ai

    Đêm nằm ôm gối thở than
Gối ơi là gối bạn lang đâu rồi.


Trong căn phòng vắng lạnh, càng thương càng nhớ càng sầu, nàng đâm ra hờn trách

Chạnh thương chạnh nhớ chạnh sầu
     Vì ai nên nỗi cho trầu xa cau


Nhưng có lẽ sâu đậm nhất chính là câu

           Anh về để áo lại đây
Để khuya em đắp gió tây(*) lạnh lùng


Tại sao câu ca dao trên lại cho là sâu đậm nhất. Gió Tây lạnh thế nào mà cô gái phải cần đến tấm áo của người thương để đắp?
Vào mùa hè, gió từ Lào thổi sang, gọi là gió Tây. Gió Tây rất nóng, có lúc lên đến 43 độ C. Đối với người con gái khi người yêu rời xa, trong cảnh cô đơn, lấy gì để sưởi ấm lòng, trong khi cái oi bức của gió Tây nàng cũng cho là lạnh giá.
Một thể ví trong câu ca dao thật hay. Không thể có cái lạnh nào hơn cái lạnh trong lòng. Cái lạnh đó, chỉ có hơi ấm của người yêu mới đủ sức xoá tan.
Qua đôi câu ca dao trên, chúng ta thấy tình cảm thật đậm đà, chân thật của người con gái Việt trong Văn Chương Bình Dân. Một sự biểu lộ không e dè, thẳng thắn, chứ không hề nói bóng nói gió như trong Văn Chương Bác Học.

Huỳnh Hữu Đức

x X x

(*)Vào mùa hè nước ta chịu tác động mạnh của gió mùa Tây Nam được bắt nguồn từ khối khí xích đạo và khối khí chí tuyến hình thành trong vịnh Bengal . Nhưng khối khí gây ra hiện tượng gió Tây khô nóng ở nước ta là khối khí chí tuyến vịnh Bengal. Khối khí này khi thổi đến Việt Nam đã trải qua một quãng đường dài hơn 1000 km qua một phần lục địa thuộc Myanma, Thái Lan, Thượng Lào và gây mưa trong quá trình di chuyển. Đặc biệt khi đến Thượng Lào gió đã bị chắn bởi dãy Trường Sơn Bắc. Dãy Trường Sơn Bắc chạy gần như vuông góc với hướng gió, lại có sườn đón gió thoai thoải, nên khối khí đã gây mưa hết bên sườn đón gió (sườn Tây) khi tràn vào nước ta gió đã biến tính và trở nên cực kỳ khô và nóng. Đó chính là hiện tượng gió Tây khô nóng ở nước ta

Theo quy luật, ở miền Trung, mùa gió Lào thường bắt đầu từ hạ tuần tháng 4 đến trung tuần tháng 9, trong đó gió Lào thổi nhiều nhất vào tháng 6 và tháng 7, mỗi tháng trung bình có 7-10 ngày, trong đó 2-4 ngày gió Lào thổi mạnh. Gió Lào thường thổi thành từng đợt, đợt ngắn từ 2 đến 3 ngày, có đợt từ 10 đến 15 ngày, có đợt kéo dài tới 20-21 ngày.Trong một ngày, gió Tây khô nóng thường bắt đầu thổi từ 8-9 giờ sáng cho đến chiều tối, thổi mạnh nhất từ khoảng gần giữa trưa đến xế chiều. Có khi gió Tây khô nóng thổi liên tục suốt cả ngày đêm.
Thời tiết trong những ngày này rất khô, độ ẩm xuống rất thấp, và rất nóng trời nắng chói chang, gió lại thổi đều đều như quạt lửa, mang hơi nóng đến như thiêu như đốt tất cả. Gió Tây là thế.

Huỳnh Hữu Đức

Tiếng Rao Đêm


Lòng còn nhớ ngày xưa trên gác trọ 

Trong phố nghèo hẻm nhỏ tối êm êm
Tôi lắng nghe tiếng động của xóm đêm 
Hồn man mác buồn theo chiều tắt nắng 

Trong im lặng tiếng rao đêm xa vắng 
Như bơ vơ như sầu lắng chợ đời 
“ Bánh mì đây “! Ba gết nóng xin mời 
“ Khoai lang nướng !“hết hơi giọng cộc lốc 

“ Tiếng cắc cụp!’ rộn ràng trong chốc chốc 
Mùi thơm lừng nghi ngút bát mì đêm 
Đời sinh viên nghèo rệp chẳng dám thèm 
Mủi không ngửi , ráng kềm dòng nước miếng 

“ Bánh tét hấp!” tiếng rao khuya xao xuyến 
Giọng khàn khàn quyến luyến giữa canh trường 
Dư âm buồn man mác lẫn cảm thương 
Chiếc bánh nóng còn vương mùi lá chuối 

Từng chất giọng , từng âm thanh , từng lối 
Có tiếng rao như hối hận kiếp người 
Có tiếng rao chấp nhận gió mưa đời 
Bản giao hưởng rã rời đêm sâu vắng 

Tiếng rao cuối khi còi khuya lanh lảnh 
Đèn tắt dần xóm nhỏ cảnh lặng im 
Buông mình trên ghế bố mắt lim dim 
Lòng xao xuyến nỗi niềm riêng êm ái  

Mailoc
10-05-13


Hùng Ca Sử Việt 1: Đồng Bào


Đồng Bào

Thế giới này, chỉ duy nhất dân tộc ta mới có từ "Đồng Bào" (cùng chung một bọc) mà thôi. Hai tiếng thật thân yêu, nói lên tình ruột thịt của Người Việt. Kinh Thượng một dòng máu, một tổ tiên, một cội nguồn.
Trong dân gian luôn truyền tụng câu chuyện Một Mẹ Trăm Con từ đây…
Thuở xa xưa, cách đây lâu đời lắm, ở Lĩnh Nam có một thủ lĩnh tên là Lộc Tục, hiệu là Kinh Dương Vương, sức khoẻ tuyệt trần, lại có tài đi lại dưới nước như đi trên cạn. Một hôm, Kinh Dương Vương đi chơi hồ Ðộng Ðình, gặp Long Nữ là con gái Long Vương, hai người kết thành vợ chồng và ít lâu sau sinh được một trai, đặt tên là Sùng Lãm.
Lớn lên Sùng Lãm rất khoẻ, một tay có thể nhấc bổng lên cao tảng đá hai người ôm. Cũng như cha, Sùng Lãm có tài đi lại dưới nước như đi trên cạn. Khi nối nghiệp cha, chàng lấy hiệu là Lạc Long Quân.
Lúc bấy giờ ở đất Lĩnh Nam còn hoang vu, không một nơi nào yên ổn, Lạc Long Quân quyết chí đi du ngoạn khắp nơi.
Ðến vùng bờ biển Ðông Nam, Lạc Long Quân gặp một con cá rất lớn. Con cá này đã sống từ lâu đời, mình dài hơn năm mươi trượng, đuôi như cánh buồm, miệng có thể nuốt chửng mười người một lúc. Khi nó bơi thì sóng nổi ngất trời, thuyền bè qua lại đều bị nó nhận chìm, người trên thuyền đều bị nó nuốt sống. Dân chài rất sợ con quái vật ấy. Họ gọi nó là Ngư tinh.
Chỗ ở của Ngư tinh là một cái hang lớn ăn sâu xuống đáy biển, trên hang có một dãy núi đá cao ngăn miền duyên hải ra làm hai vùng.
Lạc Long Quân quyết tâm giết loài yêu quái, trừ hại cho dân, Lạc Long Quân đóng một chiếc thuyền thật chắc và thật lớn, rèn một khối sắt có nhiều cạnh sắc, nung cho thật đỏ, rồi đem khối sắt xuống thuyền chèo thẳng đến Ngư Tinh, Lạc Long Quân giơ khối sắt lên giả cách như cầm một người ném vào miệng cho nó ăn. Ngư Tinh há miệng đón mồi. Lạc Long Quân lao thẳng khối sắt nóng bỏng vào miệng nó. Ngư Tinh bị cháy họng vùng lên chống cự, quật đuôi vào thuyền của Lạc Long Quân. Lạc Long Quân liền rút gươm chém Ngư Tinh làm ba khúc. Khúc đầu hoá thành con chó biển. Lạc Long Quân lấy đá ngăn biển chặn đường giết chết con chó biển, vứt đầu lên một hòn núi, nay gọi hòn núi ấy là Cẩu Ðầu Sơn, khúc mình của Ngư Tinh trôi ra xứ Mạn Cẩu, nay còn gọi là Cẩu Ðầu Thủy, còn khúc đuôi của Ngư Tinh thì Lạc Long Quân lột lấy da đem phủ lên hòn đảo giữa biển, đảo ấy nay còn mang tên là Bạch Long Vĩ.
Trừ xong nạn Ngư Tinh, Lạc Long Quân đến Long Biên. ở đây có con cáo chín đuôi sống đến hơn nghìn năm, đã thành tinh. Nó trú trong một hang sâu, dưới chân một hòn núi đá ở phía Tây Long Biên. Con yêu này thường hoá thành người trà trộn trong nhân dân dụ bắt con gái đem về hang hãm hại.
Một vùng từ Long Biên đến núi Tản Viên, đâu đâu cũng bị Hồ Tinh hãm hại. Nhân dân hai miền rất lo sợ, nhiều người phải bỏ cả ruộng đồng, nương rẫy, kéo nhau đi nơi khác làm ăn.
Lạc long quân thương dân, một mình một gươm đến sào huyệt Hồ tinh, tìm cách diệt trừ nó.
Khi Lạc Long Quân về đến tới cửa hang, con yêu tinh thấy bóng người, liền xông ra, Lạc Long Quân liền hoá phép làm mưa gió, sấm sét vây chặt lấy con yêu. Giao chiến luôn ba ngày ba đêm, con yêu dần dần yếu sức, tìm đường tháo chạy, Lạc Long Quân đuổi theo chém đứt đầu nó. Nó hiện nguyên hình là một con cáo khổng lồ chín đuôi. Lạc Long Quân vào hang cứu những người còn sống sót, rồi sai các loài thuỷ tộc dâng nước sông Cái, xoáy hang cáo thành một vực sâu, người đương thời gọi là đầm Xác Cáo, đời sau mới gọi là Tây Hồ.
Dẹp yên nạn Hồ Tinh nhân dân quanh vùng lại trở về cày cấy trên cánh đồng ven hồ, và dựng nhà lập xóm trên khu đất cao nhất gọi là làng Hồ, đến nay vẫn còn.
Thấy dân vùng Long Biên đã được yên ổn làm ăn Lạc Long Quân đi ngược lên vùng rừng núi đến đất Phong Châu. ở vùng này có một cây cổ thụ gọi là cây chiên đàn, cao hàng nghìn trượng, trước kia cành lá sum suê tươi tốt che kín cả một khoảng đất rộng, nhưng sau nhiều năm, cây khô héo, biến thành yêu tinh, người ta gọi là Mộc Tinh.

Con yêu này hung ác và quỷ quyệt lạ thường. Chỗ ở của nó không nhất định, khi thì ở khu rừng này, khi thì ở khu rừng khác. Nó còn luôn luôn thay hình đổi hạng ẩn nấp khắp nơi, dồn bắt người để ăn thịt. Ði đến đâu cũng nghe thấy tiếng khóc than thảm
thiết, Lạc Long Quân quyết ra tay cứu dân diệt trừ loài yêu quái. Lạc Long quân phải luồn hết rừng này đến rừng kia và qua nhiều ngày gian khổ mới tìm thấy chỗ ở của con yêu. Lạc Long Quân giao chiến với nó trăm ngày đêm, làm cho cây long đá lở, trời đất mịt mù mà không thắng được nó. Cuối cùng Lạc Long Quân phải dùng đến những nhạc cụ như chiêng, trống
nó khiếp sợ và chạy về phía Tây Nam, sống quanh quẩn ở vùng đó, người ta gọi là Quỷ Xương Cuồng.
Diệt xong được nạn yêu quái, Lạc Long Quân thấy dân vùng này vẫn còn đói khổ thiếu thốn, phải lấy vỏ cây che thân, tết cỏ tranh làm ổ nằm bèn dạy cho dân biết cách trồng lúa nếp, lấy ống tre thổi cơm, đốn gỗ làm nhà sàn để ở, phòng thú dữ. Lạc Long Quân còn dạy dân ở cho ra cha con, vợ chồng. Dân cảm ơn đức ấy, xây cho Lạc Long Quân một toà cung điện nguy nga trên một ngọn núi cao. Nhưng Lạc Long Quân không ở, thường về quê mẹ dưới thủy phủ và dặn dân chúng rằng: "Hể có tai biến gì thì gọi ta, ta sẽ về ngay! "
Lúc bấy giờ có Ðế Lai từ phương Bắc đem quân tràn xuống phương Nam. Ðế Lai đem theo cả người con gái yêu rất xinh đẹp của mình là Âu Cơ và nhiều thị nữ. Thấy Lĩnh Nam phong cảnh tươi đẹp, lại nhiều chim muông, nhiều gỗ quý. Ðế Lai sai quân dựng thành đắp lũy định ở lâu dài. Phải phục dịch rất cực.


khổ, nhân dân chịu không nổi, hướng về biển Ðông gọi to: "Bố ơi! Sao không về cứu dân chúng con!". Chỉ trong chớp mắt, Lạc Long Quân đã về.
Nhân dân kể chuyện, Lạc Long Quân hoá làm một chàng trai rất đẹp, có hàng trăm đầy tớ theo hầu, vừa đi vừa hát đến thẳng chỗ Ðế Lai ở. Lạc Long Quân không thấy Ðế Lai đâu cả, mà chỉ thấy một cô gái nhan sắc tuyệt trần cùng vô số thị tỳ và binh lính. Cô gái xinh đẹp đó là Âu Cơ. Thấy Lạc Long Quân uy nghi tuấn tú nàng đem lòng say mê, xin đi theo Lạc Long Quân. Lạc Long Quân đưa Âu Cơ về ở trong cung điện của mình, trên núi cao.
Ðế Lai về, không thấy con gái đâu, liền sai quân lính đi tìm khắp nơi. Hết ngày này qua ngày khác. Lạc Long Quân sai hàng vạn các ác thú ra chặn các nẻo đường, xé xác bọn chúng làm cho chúng khiếp sợ bỏ chạy. Ðế Lai đành thu quân về phương bắc.
Bấy giờ nàng Âu Cơ mang thai, trải ba năm, ba
tháng, mười ngày, thấy trên núi Nghĩa Lĩnh có mây lành ngũ sắc xán lạn. Đến giờ Ngọ, ngày 25 tháng 12 năm Giáp Tý, Âu Cơ thấy bào thai chuyển động. Đến giờ Ngọ, ngày 28, hương lạ đầy nhà, hào quang khắp
phòng, bà sinh một bọc bạch ngọc, hương lạ giáng xuống. Bắt đầu sinh ở núi Ngũ Lĩnh, đất Thổ Thứu phong, ao sen đỉnh ngọc.
Lạc Long Quân thấy bà sinh ra bọc lạ, cho là xưa nay chưa có, việc lạ trong nước, bèn triệu văn võ bách quan trong triều vào chầu chính điện. Lúc ấy, giờ Ngọ, bỗng thấy trong thành giữa trời có ba tiếng
hiệu lệnh làm chuyển động trời đất, sông núi, cỏ cây, vạn vật kinh sợ. Mây lành ngũ sắc sáng đầy khắp ba nghìn thế giới. Trên thượng điện, vạn chim bay, ngư, lân tụ hội theo gió mưa cống triều.
Ngài thấy quốc gia có điềm lạ khác thường, xuống chiếu cho các quan văn võ chỉnh đốn ý mạo, chay khiết lòng thành, tề tựu tại điện Kính Thiên, thắp hương đèn phùng chầu triều bái Hoàng Thiên Thượng Đế đến Tứ phủ vạn linh.
Tới giờ Thân hôm ấy, bỗng thấy một áng mây
xanh từ hướng Tây kéo đến, tụ tại thềm rồng của điện Kính Thiên, tự nhiên có bốn vị tướng xuất hiện kỳ lạ, cao hơn trượng rưỡi, đầu đội mũ hoa, thân mặc bào xanh gấm vóc, eo thắt đai ngọc, chân đi hài sắt, miệng cười như hào quang sáng rực, mây tuôn cuồn cuộn, tay cầm một chiếc long bài (sắc) của Ngọc Hoàng
Thượng Đế: Ban cho Hiền Vương một bọc trăm trứng, sinh nơi ngọc khuyết, thành trăm người con trai trị nước. Nay sai bốn vị Đại Thiên vương giúp đỡ, che chở cho nước. Vậy ban sắc!.
Lạc Long Quân chiếu theo long bài, truyền các quan văn võ ngẩng mặt bái tạ trời, bái tạ Thiên vương.
Thiên vương nói:
- Trăm trứng ngọc bào do điềm rồng giáng sinh, thiên sứ báo cho Hiền Vương biết, hãy đặt vào bàn vàng, mang đến chùa Cổ Viễn Sơn, tên là Từ Sơn Thiên Quang Hòa Thượng Thiền Thứu Lĩnh (về sau đổi là Thiên Quang Thiền tự) đặt ở trong chùa, chọn lấy vị quan trai giới chầu trực, thắp hương không dứt.
Bọc đó vỡ ra, Lạc Long Quân bèn đỡ lấy thì bốn vị Đại Thiên Vương tự nhiên biến hóa, Hiền Vương càng thành tâm cầu đảo. Đến giờ Ngọ, ngày rằm 15 tháng Giêng, trăm trứng vỡ ra đều thành trăm người con trai; rồng thành năm sắc, điềm ứng sáng ngời, hương trời giáng xuống, đầy khắp núi sông. Được khoảng một tháng, không phải bú mớm mà tự trưởng thành. Tất cả các con đều có hình dáng đẹp lạ, tướng mạo phương phi, anh hùng nổi tiếng ở đời, cao lớn ba thước bảy tấc.
Lạc Long Quân triệu 6 nàng cung phi, giao phát gấm lĩnh, cắt may thành trăm bộ áo mũ cấp cho trăm người con trai. Cả ngày trăm con vui cười, thường lấy lá hoa ao sen đùa nghịch. Sau 100 ngày, các con khôn
lớn, không nói mà hay cười. Qua 200 ngày, đến giờ Thìn ngày 20 tháng 7, cả trăm người con trai đều cười to, nói rằng:
Trời sinh Thánh Vương trị nước, giúp bốn biển thanh bình, quốc gia yên vui, là trăm hoàng tử đều ở thềm rồng điện thượng. Bỗng thấy một đám mây ngũ sắc từ không trung giáng xuống thềm rồng.
Lạc Long Quân thấy tám vị Thiên tướng, đầu đội mũ đồng, mình mặc thiết giáp, chân đi hài bạc, eo thắt dải rồng, dung mạo xán lạn, mắt sáng như sao, miệng xuất hào quang, tay cầm thần kiếm, linh trượng, bảo trữ, thiết phủ, đứng hầu hai bên tả hữu; hai bên đối chầu, hư không biến hóa, gió mưa ập đến,
bay vượt nhiễu không trung trong điện Ngũ Lĩnh, rồi núi non thất hình, sông hồ sóng dâng trào.
Sau ba giờ ánh sáng rực rỡ, tám vị tướng mới xưng danh làm tám bộ Kim Cương, vâng sắc của Thượng Thiên chư Phật, Bảo Đế lệnh sai giáng xuống che chở cho trăm người con trai. Nay tất cả đã trưởng thành, hiểu biết nên tám vị tướng phụng mệnh đưa các vương tử đến cửa khuyết bái tạ Hoàng phụ, cai trị trong nước.
Tám vị tâu xong, bay lên trời biến mất. Tám vị ban cho Lạc Long Quân một chiếc long bài, một chiếc thiên bảo thần ấn, một viên bạch ngọc, một chiếc thần kiếm, một quyển thiên thư, một chiếc thước ngọc, một chiếc bàn vàng đặt ở trong điện. Hiền Vương nhận lấy, cho đây là trời ứng điềm lành, giúp yên trong nước.
Vua thấy trăm người con trai bỗng nhiên cao lớn, thân dài bảy thước ba tấc, mỗi người cầm một vật thiên bảo thần khí chia nhau đứng hầu hai bên tả hữu, bái tạ Hoàng phụ.


Ngài xuống chiếu rằng: Trời sinh trăm người con trai, đều văn võ thánh thần, anh hùng tài lược giúp nước yên bình, thiên hạ cậy nhờ bởi ơn giáo hoá, phụ tử quân thần cùng nhau vui hưởng”.
Hàng chục năm trôi qua, Lạc Long Quân sống đầm ấm bên cạnh đàn con, nhưng lòng vẫn nhớ thuỷ phủ. Một hôm Lạc Long Quân từ giã Âu Cơ và đàn con, hoá làm một con rồng vụt lên mây, bay về biển cả. Âu Cơ và đàn con muốn theo Lạc Long Quân, nhưng không đi được, buồn bã ở lại trên núi. Hết ngày này qua ngày khác, họ mỏi mắt trông chờ mà vẫn biền biệt tăm hơi. Không thấy Lạc Long Quân trở về. Nhớ chồng quá, Âu Cơ đứng trên ngọn núi cao hướng về biển Ðông lên tiếng gọi:
"Bố nó ơi! Sao không về để mẹ con chúng tôi sầu khổ thế này".
Lạc Long Quân trở về tức khắc. Âu Cơ trách chồng:
- Thiếp vốn sinh trưởng ở núi cao, động lớn, ăn ở với chàng sinh được trăm trai, thế mà chàng nỡ lòng bỏ đi, để mặc mẹ con thiếp sống bơ vơ khổ não.
Lạc Long Quân nói:
Ta là loài rồng, nàng là giống tiên, khó ở với nhau lâu dài. Nay ta đem năm mươi con về miền biển, còn nàng đem năm mươi con về miền núi, nếu gặp sự nguy hiểm thì báo cho nhau biết, cứu giúp lẫn nhau, đừng có quên.

Hai người từ biệt nhau, trăm người con trai toả đi các nơi, trăm người đó trở thành tổ tiên của người Bách Việt. Người con trưởng ở lại đất Phong Châu, được tôn làm vua nước Văn Lang lấy hiệu là Hùng Vương. Vua Hùng chia nước ra làm mười năm bộ, đặt tướng văn, võ gọi là lạc hầu, lạc tướng. Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương. Ngôi vua đời đời gọi chung một danh hiệu là Hùng Vương.
Lạc Long Quân là người mở mang cõi Lĩnh Nam, đem lại sự yên ổn cho dân. Vua Hùng là người dựng nước, truyền nối được mười tám đời. Do sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ, nên dân tộc Việt Nam vẫn kể mình là dòng giống Tiên Rồng.
Từ tích Cha Lạc Long Quân lấy Mẹ Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nên dân tộc ta mới có từ ĐỒNG BÀO.
Trống Đồng Đông Sơn

Bối Cảnh Lịch sử
Trong âm mưu thôn tính và đồng hoá dân tộc Việt, các cuộc xâm lăng từ phương Bắc không ngừng tiếp diễn. Điển hình nhất là trong thời kỳ Bắc Thuộc lần thứ hai, sau khi tiêu diệt được cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Mã Viện tiến hành chính sách đồng hoá, thiêu huỷ tất cả những gì liên quan đến văn hoá nước ta. Chẳng những thế, Mã Viện còn trồng một trụ đồng trên có hàng chữ"Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" có nghĩa là "Cột đồng gãy, Giao Chỉ bị tiêu diệt". Dân Việt vì sợ cột gãy, nên khi đi ngang trụ đồng đều lấy đá thảy vào chân cột, lâu ngày thành cái gò cao.
Người Trung Hoa lợi dụng huyền sử, không xác định chính xác về tổ tiên, với chính sách đồng hoá, đến thời Mã Viện đốt sách xóa bỏ chữ viết của người Việt Cổ, xoá bỏ các ghi chép về thời Hùng Vương..v...v.. (cho đến nay tạo ra 1 vùng huyền sử cho Chính Sử Việt Nam : Hùng Vương huyền sử - Lộc Tục+Sùng Lãm+18 đời vua HÙNG(20 vua) mà trị vì hơn 2600 năm Trước Công Nguyên ? (*)
Ép buộc khuyến khích học Hán Tự. Các quan Tàu đô hộ tìm đủ mọi cách để xoá đi cội nguồn dân tộc Việt.
Với chính sách đồng hoá và xâm lấn, các triều đại Trung Hoa liên tục tìm cách đồng hoá người Việt thành người Tàu, bọn chúng đã đốt sách, hủy diệt văn hoá của người Việt và còn thâm độc hơn tự nhận là "con cháu Viêm-Hoàng"(Đế Viêm tức Thần Nông) để có ý chỉ rằng dân tộc Việt cũng là người Trung Quốc.
Vốn Thần Nông Thị (dòng họ Thần Nông) là dòng vua đầu tiên của các vị vua người Việt. Người Việt gọi là "Đế Viêm"(tiếng Việt), Người Tàu gọi là "Viêm Đế" (tiếng Hán)
Đế Viêm Thần Nông người phát minh ra việc trồng lúa nước. Vào thời điểm này người Trung Hoa sống ở phía bắc khí hậu ôn đới chỉ biết trồng lúa mạch lấy đâu ra kỹ năng trồng lúa nước của miền nhiệt đới mà nhận ông vua này của họ? Đến đời nhà Hạ, nhà Thương của người Trung Hoa lãnh thổ cũng chỉ ở phía Bắc sông Trường Giang lấy đâu ra vùng trồng lúa nước sông Trường Giang?
Các vua kế tiếp Đế Viêm Thần Nông gồm có : Thứ 2. Đế Thư. 3. Đế Lâm. 4. Đế Minh (Vua này sinh ra Lộc Tục là con thứ không phải con trưởng. Lộc Tục (Kinh Dương Vương) sinh ra Sùng Lãm chính là Lạc Long-Quân) 5. Đế Nghi 6. Đế Lai 7. Đế Lý 8. Đế Du Vọng


Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Vua Đế Minh là cháu ba đời của Vua Thần Nông. Khi đi tuần phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc Hồ Nam Trung Hoa) gặp một nàng Tiên, lấy nhau sinh ra Lộc Tục. Sau đó phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam ( từ núi Ngũ Lĩnh trở vào Nam), Xưng hiệu là Kinh Dương Vương, đặt tên nước là Xích Quỷ. Năm Nhâm Tuất 2897 trước Công Nguyên, Kinh Dương Vương cưới con gái của Thần Quân Động Đình Hồ là Long Nữ sinh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm nối ngôi vua xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân cưới con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ.
Theo truyền thuyết Việt Nam, Âu Cơ là Tổ Mẫu của người Việt. Tương truyền, Âu Cơ là con gái của vua Đế Lai. Trong khi đi tuần thú phương Nam, ông đã để Âu Cơ lại trên một cái động. Khi Lạc Long
Quân đi đến đây thì thấy nàng xinh đẹp nên đã đem lòng yêu mến và đem về làm vợ. Hai vợ chồng Lạc Long Quân và Âu Cơ đã sống với nhau.
Âu Cơ Sinh ra một bọc, trong bọc có 100 quả trứng. Trứng nở ra trăm đứa con. Một hôm Lạc Long Quân bảo Âu Cơ: " Ta là giống Rồng, Nàng là Giống Tiên. Thuỷ hoả tương khắc, khó mà chung hợp nhau. Nay Nàng dẫn 50 con lên núi. Còn ta đưa 50 con xuống biển", chia nhau cai quản các vùng. Khi hữu sự hãy thông báo cho nhau để giúp đỡ. Đây là tổ tiên Bách Việt. Lạc Long Quân đưa các con xuống miền biển Nam Hải, phong cho con trưởng làm vua Hùng Vương đặt tên nước là Văn Lang.
Họ Hồng Bàng triều đại đầu tiên trong sử Việt bắt đầu từ đấy.

Huỳnh Hữu Đức Biên Soạn

Mạn Đàm Về Các Lễ Mừng Ngày Sinh

                

Không còn bao lâu nữa đến ngày đứa cháu nội thứ 2 tròn 1tháng tuổi, tôi nhớ lại cách nay 10 năm, khi đứa cháu Nội lớn sắp tròn tháng đầu tiên, con trai tôi có hỏi:
- Ba ơi, Cháu sắp đầy tháng, vợ chồng Con định tổ chức tiệc, theo Ba, chúng ta làm theo ngày Tây hay ngày Ta?
- Mừng đầy tháng đó là cái lệ của người phương đông nói chung và của người Việt chúng ta nói riêng, nên phải theo ngày âm lịch mới đúng.
- Thế còn ngày Thôi nôi ?
-  Nếu các con tổ chức sinh nhật 1 tuổi cho Cháu, thì làm theo ngày Tây Ta gì cũng được. Còn Thôi Nôi thì nhất định phải là ngày Âm Lịch, tức là ngày Ta. Vì đó là Tục Lệ của chúng ta, của người phương đông.
- Con chưa rõ lắm. Tại sao tổ chức Sinh nhật thì theo ngày Tây, Ta gì cũng được?
- Từ khi nước chúng ta chuyển qua sử dụng cách tính thời gian theo Tây Phương, tất cả giấy tờ đều ghi theo Dương Lịch. Cả tổ chức Sinh nhật mỗi năm, cũng theo Văn Hóa Phương Tây. Nên Các Con có thể dựa vào ngày Tây. Còn nếu tổ chức theo ngày âm thì cũng đúng thôi, vì chúng ta là người Việt.
Theo truyền thống, người Việt chúng ta không có lệ tổ chức sinh nhật hằng năm, chỉ tổ chức lễ Đầy Tháng, Thôi Nôi, Cúng Căn 3; 6; 9; 12 tuổi. Ngày nay, không còn ai tổ chức các lễ mừng tuổi đúng : Tứ Tuần (năm 41 tuổi tính theo tuổi Âm Lịch), Ngũ Tuần (51 tuổi). Riêng  Lục Tuần (61 tuổi), Thất Tuần (71), Bát Tuần (81) ...được chú trọng nhiều hơn, thường do Con Cháu tổ chức mừng Thọ Ông Bà, Cha Mẹ.
Nói chung, tất cả những lễ đều phải tổ chức theo ngày tháng Âm Lịch.
- Tại sao Tứ tuần và Ngũ Tuần ít được chú trọng vậy Ba?
- Trước đây, tuổi thọ của con người còn thấp, bình quân khoảng 40, do đó Đỗ Phủ mới có câu thơ rất nổi tiếng "Nhân sinh thất thập cổ lai hy"  . Chính vì thế chỉ những danh gia vọng tộc thường tổ chức tiệc mừng tuổi bắt đầu từ 41 (tuổi Tứ Tuần). Đến khi được 61 mới thật sự là mừng thọ. Theo quan niệm về Tử Vi, khi còn người sống đến 61 tuổi, là sống qua vòng tử vi 60 năm tròn một Giáp Tý.
- Giáp Tý là gì vậy Ba?
- Giáp Tý là sự kết hợp 6 Thập Can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí, tương ứng với 5 Thập Nhị Chi:  Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Bắt đầu là Giáp và Tý nên gọi chu kỳ này là Giáp Tý
Ngày nay, tuổi thọ tăng cao, trung bình đạt sắp sỉ 70, nên việc mừng tuổi Tứ Tuần, Ngũ Tuần không còn nữa. Thêm việc du nhập tổ chức sinh nhật hằng năm theo Tây Phương, dần dà lễ mừng tuổi Tứ Tuần, Ngũ Tuần không còn nữa. Chỉ còn một số người theo tục lệ cũ tổ chức Lục Tuần, Thất Tuần...mà thôi.

Còn việc cúng Đầy Tháng, Thôi Nôi... là Tục Lệ có từ rất lâu đời. Theo quan niệm dân gian, từ lúc mới tượng hình thành bào thai trong bụng mẹ, một sự sống đã bắt đầu. Sự sống bé bỏng này được sanh ra bởi Bà Chúa Thai Sanh, việc chăm sóc bảo vệ do 12 Mụ Bà. Đó là các Bà Mẹ Sanh Mẹ Đẻ và 3 Đức Thầy. Ba Đức thầy bao gồmThánh Sư, Tổ Sư và Tiên Sư 
- Bà Chúa Thai Sanh ( Bà Chúa Đầu Thai) là người đứng đầu các vị thần bảo vệ đứa trẻ từ lúc tượng hình, đến lúc chào đời cho đến 12 tuổi.
- 12 Mụ Bà thay nhau bảo vệ đứa trẻ  12 tháng trong năm. Nhiệm vụ bảo vệ nầy duy trì trong suốt 12 năm.
- Ba Đức Thầy có chức năng truyền dạy nghề nghiệp 

Trẻ sinh ra được đúng một tháng, gia đình tổ chức lễ Cúng Mụ, hay còn gọi là đám Đầy Tháng.
Việc tổ chức lễ Đầy Tháng, trước là tạ ơn các Mụ Bà, Tổ Tiên đã phù hộ cho “mẹ tròn con vuông”. Vả lại theo tín ngưỡng, ngày xưa người mẹ và con chưa đủ tháng thường không được ra khỏi nhà . Do đó ngày đầy tháng cũng là ngày đầu tiên gia đình trình thân tộc, họ hàng, lối xóm về  đứa trẻ.
Trong ngày đầy tháng, ngoài việc chuẩn bị món ăn thức uống dùng để chiêu đãi khách mời, gia chủ còn chuẩn bị mâm lễ vật cung kính 12 Mụ bà gồm 12 chén chè, 3 tô chè, 3 đĩa xôi và một mâm cúng kính 3 Đức Thầy gồm con vịt chéo cánh được luộc chín, 3 chén cháo và 1 tô cháo

Khi trẻ đúng 1 tuổi, cha mẹ tổ chức cúng Thôi Nôi. Đây là một lễ không thể thiếu của mỗi người Việt chúng ta. Trong lễ thôi nôi, sau nghi thức cúng kính mang ý nghĩa tương tự như cúng Đầy Tháng, Một tục lệ khá đặc biệt còn lưu giữ là tục “đặt sàn” có nhiều vật dụng như gương lược, dao kéo, đất, xôi, vũ khí … để trẻ tự lựa chọn. Đây là hình thức tiên đoán nghề nghiệp tương lai của trẻ. Theo quan niệm dân gian, vật nào được trẻ lựa chọn trước, khi lớn lên trẻ sẽ có nghề tương ứng với món đồ đã chon. Theo Phong tục xưa, sau lễ thôi nôi, hằng năm sẽ không tổ chức kỷ niệm ngày sinh. mà chỉ tổ chức Cúng Căn khi trẻ lên 3 tuổi, 6 tuổi, 9 tuổi, 12 tuổi. Ý nghĩa của Cúng Căn cũng nhằm mừng trẻ được mạnh khỏe và tạ ơn Các Mụ Bà chăm sóc, bảo vệ. Đặc biệt lễ Cúng Căn khi trẻ lên 12, đây là lần Cúng Căn cuối cùng, theo quan niệm Ông Bà ngày xưa, đứa trẻ được 12 tuổi đã thoát nạn “hữu sanh vô dưỡng” tự làm chủ được mọi hành động, không cần Các Mụ Bà dạy dỗ bảo vệ nữa, thì gia đình làm lễ Cúng Dứt Căn, mang ý nghĩa tạ ơn lần cuối, Lễ này được tổ chức rình rang hơn, linh đình hơn các lễ trước.

Tóm lại, các lễ mừng Đầy tháng, Thôi nôi, Mừng thọ...là nét đẹp trong văn hóa nước nhà. Tuy nhiên do quá trình hội nhập, giao thoa văn hóa, giới trẻ ngày nay, chỉ chú trọng đến việc tổ chức sinh nhật mỗi năm theo phương tây, dần dà những nét độc đáo của Tiền Nhân từ từ đi vào quên lãng. Nếu một ngày nào đó, các mỹ tục này không còn nữa, đó chính là một mất mát vô cùng to lớn trong Văn hóa nước nhà, một tội lớn với Tiền  Nhân.

                                                                                                                   Huỳnh Hữu Đức

 
******
Trong sách " Bắc Bộ Lục" có nói : Tục Lĩnh Nam nhà giàu đẻ con được 3 ngày, hoặc đầy tháng. thì tắm gội cho con, làm một bữa tiệc gọi là "Đoàn Du Phạn" (Bữa cơm tròn trặn trơn tru). "Vân Đài Loại Ngữ" của Lê Quí Đôn viết: Tục nước ta, đẻ con được 3 ngày làm mâm cơm cúng Mụ. Đến hôm đầy tháng, hôm 100 ngày (đầy tuổi Tôi), đều có làm mâm cơm cúng Gia Tiên, bày tiệc ăn mừng. Bà con, người quen thuộc, dùng thơ, câu đối, đồ chới, quần áo trẻ để mừng. Mà nhất là tiệc 100 ngày (tiệc đầy tuổi Tôi) to hơn.
Theo quan niệm dân gian của cộng đồng Người Việt, đứa trẻ được sinh ra là do các vị Đại Tiên (Bà chúa Đầu thai) và Tiên Mụ mà trực tiếp là 12 bộ Tiên Nương (12 bà Mụ) nặn ra ban cho. Vì vậy, khi đứa trẻ đầy cữ (đứa trẻ chào đời được 3 ngày), đầy tháng (đứa trẻ chào đời được một tháng) hay đầy năm thì bố mẹ, ông bà đứa trẻ phải bày tiệc cúng Mụ để tạ ơn các bà Mụ và cầu xin các Mụ ban cho đứa trẻ mọi điều may mắn tốt lành.Tục thờ cúng 12 bà Mụ là tín ngưỡng người Việt tiếp thu từ Trung Hoa. Theo truyền thuyết, tục này có từ lâu đời và đã từng được giải nghĩa trong tác phẩm Phong thần diễn nghĩa. Theo truyện, Khương Tử Nha phụng chỉ Ngọc Đế phong cho ba vị tiên đảo là Vân Tiêu, Quỳnh Tiêu và Bích Tiêu, môn đồ của Quy Linh Thánh Mẫu, nắm giữ "hỗn nguyên kim đẩu". Đời người trước sau đều chuyển kiếp từ cái "kim đẩu" này. Vân Tiêu, Quỳnh Tiêu, Bích Tiêu gọi chung là "Tam Cô", hay "Chú Sinh Nương Nương". Chú Sinh Nương Nương còn gọi là Thụ Tử Thần (thần ban con), và có 12 bà chị ("thập nhị thư bà" hay "thập nhị bảo mẫu", "thập nhị đình nữ"). Thập nhị thư bà với những tư thế khác nhau, tượng hình người phụ nữ bồng con, cầm tay con dắt, cho con bú v.v.
 ( theo http://vi.wikipedia.org)


Hùng Ca Sử Việt 1 - Lời Mở Đầu

                            Phần 1

   Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
     Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư.
     Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
     Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
                                     Lý Thường Kiệt
     Sông núi nước Nam, vua Nam ở,
     Rành rành định phận tại sách Trời.
     Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
     Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời

                         Mục Lục

                                 Lời Mở Đầu
                                 Đồng Bào
                                 Phù Đổng Thiên Vương
                                 Tiếng Hờn Sông Hát
                                 Nhuỵ Kiều Tướng Quân
                                 Mai Hắc Đế
                                 Bố Cái Đại Vương
Lời Mở Đầu
        
         Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, đều có niềm tự hào, hãnh diện của nòi giống. Dân Việt ta lại càng hãnh diện hơn khi có những Tiền Nhân cân quắc anh thư, là những anh hùng xuất chúng.
         Là một nước nhỏ bé nằm kề cận một nước lớn Trung Hoa, luôn tìm cách xâm chiếm và đồng hoá, thế mà vẫn kiên cường bất khuất. Trong suốt mấy ngàn năm luôn bị phương bắc xâm lược, Tổ Tiên ta vẫn giữ vững văn hoá dân tộc, để con cháu đời sau luôn hãnh diện tự hào: đất nước ta có hơn 4.000 năm văn hiến. Tiền Nhân luôn nêu gương sáng  cho hậu thế, giữ vững truyền thống bảo vệ tổ quốc, bảo vệ giang san, không làm tay sai cho giặc  như câu nói của Vua Lê Thánh Tông:
“Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vất bỏ... Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ (Vua Lê Lợi) mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di...”        (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

         Lịch sử Việt Nam nếu tính từ lúc có mặt con người sinh sống thì đã có hàng vạn năm trước Công nguyên, còn tính từ khi đất nước được hình thành thì mới khoảng từ hơn 4000 năm trước đây
         Những người Việt Tiền Sử trên vùng châu thổ sông Hồng sông Mã đã khẩn đất, chế ngự nước lụt của các sông,  phục vụ cho việc trồng lúa và đã tạo nên nền văn minh lúa nước.
        Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Vua Thần Nông (một trong Tam Hoàng của Huyền Sử Trung Hoa vốn  người gốc Phương Nam) là tổ tiên của dân tộc Việt, đã đem cách trồng lúa ở phương Nam ra truyền dạy lại cho người phương Bắc.
         Khu vực trung du bắc phần Việt Nam đã có người ở từ thời kỳ Đồ Đá Cũ (Thời Tiền Sử). Các nhà khảo cổ đã tìm ra các dấu vết người Vượn cư ngụ tại Lạng Sơn, Ninh Bình và Thanh Hoá cách đây hàng trăm nghìn năm. Thời kỳ này mực nước biển thấp hơn, và Việt Nam khi đó nối liền với đảo Hải Nam, bán đảo Mã Lai, Indonesia, với khí hậu ẩm và mát hơn bây giờ.
         Do chính đặc trưng về địa chất nên vùng đồng bằng sông Hồng, vịnh Bắc Việt không có điều kiện khai quật nền đất cổ đại có ở khoảng 8000 năm trước Công Nguyên (trước khi có đại hồng thủy) để xác nhận dấu vết của các nền văn minh khác nếu có. Trang sử Việt có một khoảng trống không xác định được từ khoảng năm trước 5500 năm - 18000 năm trước.
        Qua những khảo cứu trên, Thuỷ Tổ Tộc Việt không phải chỉ xuất xứ từ nam sông Hoàng Hà thôi, nên vì thế mới có một nền văn minh riêng, ngôn ngữ riêng, không hề giống với tiếng nói của các dân tộc Đông Á.                                          
         Đó chính là sắc thái riêng, bản chất riêng được gìn giữ và lưu truyền trong tâm khảm của người Dân Việt.                                                               
          “Hùng Ca Sử Việt" nói về những bậc Anh Hùng Dân Tộc Việt Nam. Cấu trúc mỗi truyện được chia làm hai phần, phần đầu được kể như truyện cổ tích, phần sau tóm lược Bối Cảnh Lịch sử đương thờ. Phần lớn nội dung được Biên Soạn từ "Đại Việt Sử Ký Toàn Thư" của Lê Văn Hưu, Phan Thu Tiên, Ngô Sĩ Liên.., “Lĩnh Nam Chích Quái”của Trần Thế Phát(?), "Việt Nam Sử Lược" của Trần Trọng Kim, cùng tham khảo một số bài viết trong các trang Web trên  google (vì quá nhiều nên không thể nhớ đưa hết vào đây. Mong Các Vị thông cảm)… 

 Huỳnh Hữu Đức Biên Soạn