Thứ Tư, 12 tháng 12, 2018

Họp Mặt CHS Tống Phước Hiệp nk 62-69 Lần 10 - P1 Vẫn Là Nỗi Nhớ


Kính Thưa Thầy Cô Kính Yêu, Khách mời – Cùng bạn bè thân mến,

Thay mặt Ban Tổ Chức, chúng em kính gửi đến quý Thầy Cô- Khách mời- Bạn bè…lời chúc mừng, chúc sức khỏe và lời cảm ơn chân thành nhất.
Bao nhiêu năm tưởng chừng như đã mất, không còn được gặp lại nhau – Bởi dòng đời xô đẩy. Bầy chim non của ngôi Trường Tống Phước Hiệp bay nhảy khắp bốn phương trời, cứ mãi mãi xa…Nhưng cũng có lúc nào đó trong tận cùng sâu thẳm của tâm hồn mỗi người chúng ta lại nhớ về thời cắp sách , đó chỉ là nỗi nhớ ! Và có một người, một nhóm bạn có ý tưởng tuyệt vời, bạn bè mình phải gặp nhau thôi, tháng ngày đó đã đến.
 

Tháng 12-2009 các bạn:
Huỳnh Hữu Đức, Lê Ngọc Điệp, Hoàng Thị Thơ
Đã làm cánh chim không mỏi chấp cánh ước mơ cho nhũng người xa xứ trở lại mái nhà xưa. Tổ chức năm đầu 2009 khoảng mười mấy người, năm 2010 hai mươi mấy người, năm 2011 trên 40 người. Và từ đó cứ hàng năm trở về có kẻ còn người mất, nhưng những đứa con tinh thần của ngôi trường Tống Phước Hiệp dù gối mỏi chồn chân vẫn tìm về nơi đây, có cả Thầy Cô, có cả bạn bè, có cả quê hương.
Cảm ơn Ban Tổ Chức đã tạo điều kiện cho chúng tôi có nơi chốn quay về họp mặt, thăm lại Thầy Cô- Bạn bè, và có trăm điều để hàn huyên tâm sự.
Đó là lý do mà Ban Tổ Chức kỷ niệm 10 năm được thành lập.



Vẫn Là Nổi Nhớ!!

Về đây tôi thấy lòng nhung nhớ!
Của thời áo trắng rất xa xôi…
Nhớ gì đây??
Gốc cây – Sân cỏ- Ngôi trường cũ
Bóng dáng Thầy Cô thật dịu hiền.
Phấn trắng – Bảng đen- Từng bài giảng.
Gieo mầm trí tuệ, tuổi đầu xanh.
Chúng tôi:
Học hành thì chăm chỉ…
Để Thầy Cô vui lòng…
Nhưng trái tim vẫy gọi
Bóng hình nào vấn vương !!
Bạn bè năm ba đứa
Kín đáo kể chuyện tình
Bài học thì quên mất
Chủ nhật bị Consin !!!
Nhưng mà lòng vẫn nhớ
Mà tim vẫn rộn ràng
Ánh mắt nhìn len lén
Của người bạn chung trường
Thế mà lòng đắm say
Đêm đêm về dệt mộng
Rồi nghĩ chuyện trầu cau
Nhưng giờ đây:
Tóc trắng bay trong gió
Tình đâu còn như xưa !!
Bởi cuộc đời gió mưa.
Theo dòng sông định mệnh.
Trôi mãi bến bờ xa…
Nhưng mà ai cũng có:
Những mối tình nho nhỏ
Thôi, cứ dấu trong tim
Rồi trở thành kỷ niệm
Của một thời ngây thơ…


Nguyễn Thị Bạch Tuyết
Nhớ về Vĩnh Long 8-12-2018 


***
- Họp Mặt Cựu Học sinh Tống Phước Hiệp nk 62-69 lần 10 P2
- Họp Mặt Cựu Học sinh Tống Phước Hiệp nk 62-69 lần 10 P3
http://huynhhuuduc.blogspot.com/2018/12/hop-mat-cuu-hoc-sinh-tong-phuoc-hiep-nk.html
- Họp Mặt Cựu Học sinh Tống Phước Hiệp nk 62-69 lần 10 P4
- Họp Mặt Cựu Học sinh Tống Phước Hiệp nk 62-69 lần 10 Phần cuối



***

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2018

NHỮNG NGƯỜI có CÔNG CỘNG TÁC với PHÁP



          Xin quí vị đừng vội chửi !!!
     Khi Pháp tới thì ta còn ngớ ngẩn , mê tín , tủn mủn , và … vọng Tầu Phù  !
     Khi Pháp tới thì ta bảo nó không có đầu gối(?) , cứ việc rắc trái ổi , trái mù u ra đường , nó đạp phải , té . Ta cứ việc chạy ra chém. đầu !
     Khi ta có súng Thần Công. Bắn Pháp không tới ! Không nổ hoặc kêu xì … đạn không ra … Ta bảo ÔNG ẦM ông ấy bị cảm mạo . Bổ một thang thuốc đổ vào mũi ông …hy vọng ông hết cảm !
     Ôi ! Những con người công lao to lớn (?) như Trương Vĩnh Kí , Huỳnh Tịnh Của… ta không biết trân trọng , tôn vinh .
     Ôi !Những con người cộng tác với Pháp hy vọng dân ta khai trí , học khoa học của Tây Phương  ( Âu Tây khoa học yếu minh tâm )
     Mãi sau này mà ông Hoàng Đạo vẫn còn hô hào : Âu Hóa , Âu Hóa triệt để , không chút do dự !
     Ôi ! Nều không có các vị , chả lẽ để dân chúng bị cai trị hoài bởi những tên Lê Dương và … những tên Mã Tà sao ???
     Sau Trương Vĩnh Kí , Huỳnh Tịnh Của , Hồ Biểu Chánh hoằng dương chữ Quốc Ngữ ở trong Nam . Rồi Phạm Quỳnh , Nguyễn văn Vĩnh và những vị trong hội Khai Trí Tiền Đức chỉnh đốn , hoàn thiện chữ Quốc Ngữ rồi dịch thuật và truyền bá văn minh Pháp và Âu Châu … thì ta sẽ ra sao ???
     Chả lẽ đợi sau này ông Trường Chinh hô hào trở lại học chữ Hán (!) và mãi gần đây ông điên nặng Bùi Hiền sang chế ra thứ chữ chó đẻ sao !!! ??? Ôi ! Những con người đi ngược giòng lịch sử !
     Người ta truyền rằng cụ Nguyễn Đình Chiểu không giặt quần áo bằng sà bông do Tây chế (?) và cụ ra đường thấy bằng phẳng , dễ đi , bèn hỏi ai làm ? – Thưa Tây ! Cụ bèn xuống lội ruộng mà đi ! Cụ Chiểu là một cây Đại Thụ , khả kính . Lục Vân Tiên đề cao tình người , tình làng nghĩa xóm , trung hậu , ở hiền gặp lành … Nhưng …  bắt chước cụ … thì làm sao ta tiến bộ !
     Cũng phải kể đến những người không chống Pháp kịch liệt , không làm việc cho nhà nước Pháp ! Những người này đành chấp nhận một sự đã rồi (!) Thôi thì …  số trời !!!  Thôi thì Pháp làm gì kệ cha nó ! Mình là con dân Việt thì phải làm việc gì ích lợi cho dân mình chứ ! Người ta cố gán cho những người này các danh từ không chính xác cho lắm : Những người Thỏa Hiệp !
     Từ Phan Chu Trinh khai dân trí , chấn dân khí … cho tới Huỳnh Thúc Kháng , Phan Khôi , Bùi Quang Chiêu … cho tới những người Duy Tân , Minh Tâm .
     Từ ông Hoàng Đạo Thúy viết “ Trai nước Nam làm gì ?
     Từ những người xuất dương du học … tới những người học NÔNG , học THƯƠNG ( Nông Cổ Mín Đàm )
     Từ những người làm Sà Bông Cô Ba ở miền Nam …   tới ông Bạch Thái Bưởi đóng tàu kinh doanh !
     Những người này ta phải nêu danh !
     Các vị đều muốn tiến bộ !
     Muốn tiến bộ thì không thể học ông Nghiêu , Thuấn , Khổng Mạnh !
     Muốn tiến bộ thì phải học ông Tây !



C.D.M.


Thứ Hai, 10 tháng 12, 2018

Tùng Thanh và bài dịch của thầy Lê Tương Ứng

 
                   Tùng Thanh

    Nguyệt hảo hảo độc toạ
    Song tùng tại tiền hiên
西
    Tây nam vi phong lai
    Tiềm nhập chi diệp gian
   
Tiêu liêu phát vi thanh
    Bán dạ minh nguyệt tiền
   
Hàn sơn táp táp vũ
   Thu cầm lãnh lãnh huyền
   
Nhất văn địch viêm thử
   
Tái thính phá hôn phiền
   Cánh tịch toại bất mị
  
Tâm thể câu tiêu nhiên
   
Nam mạch xa mã động
西 繁   
Tây lân ca xuy phồn
 

    Thùy tri tư thiềm hạ
滿 喧    Mãn nhĩ bất vi huyền

                          Bạch Cư Dị 

Dịch nghĩa : 

       Tiếng Thông Reo

Trăng đẹp ngồi một mình càng thích
Hai cây thông đứng trước hiên
Gió tây nam hây hẩy thổi tới 
Lặng lẽ lùa vào đám lá cành 
Vi vút reo thành tiếng 
Nửa đêm dưới vầng trăng thanh 
Như mưa rào rào trên núi lạnh 
Cung đàn thu réo rắt trên dây
Mới nghe tiêu tan hết nóng nực
Nghe lần nửa tan hết nỗi muộn phiền 
Suốt buổi tối không ngủ
Tâm hồn và thân thể lâng lân
Đường nam xe cộ rầm rập
Xóm tây đàn hát rộn ràng
Ai biết đâu dưới mái hiên này
Tiếng động đầy bên tai mà không cho là ồn . 

Dịch thơ

       Thông Reo 

Mình ta ngắm trăng huyền
Hai thông cạnh mái hiên
Gió từ tây nam đến
Lặng lẽ xuyên lá cành
Rì rào tấu khúc thanh
Nửa đêm cùng trăng sáng
Tựa mưa núi vọng sang
Như đàn thu tơ lạnh
Nghe qua buồn tan biến
Càng nghe hết muộn phiền
Cả đêm không yên giấc
Vẫn thư thái tâm hồn
Đường nam xe dập dồn
Xóm tây rộn tiếng ca
Ai biết kẻ bên thềm
Nghe hết lòng vẫn êm.
                    Quên Đi
***
Thầy Ứng dịch thơ với Nhà thơ Quên Đi vừa góp vui, vừa cám ơn lần nữa khối Cựu Học Sinh Tống Phước Hiệp ngày 8-12-2013 vừa qua. Chúc thành đạt và hạnh phúc năm MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG.

         Đôi Tùng hiên trước chơi trăng
       Chừ ta một bóng thì thầm với thơ
                 Tây nam đợt gió vu vơ
       Xuyên cành lách lá mơ hồ lao xao
            Nửa đêm trăng sáng ôi chao
    Cung đàn thu lạnh khéo trao nốt thần
          Núi Hàn ( ?) mưa giọt xa xăm
          Xua tan u ẩn âm thầm bấy lâu
       Giải thêm phiền muộn không đâu
Suốt đêm thanh thản mây sầu tuyệt nhiên
        Đường Nam xe, ngựa liền liền
  Xóm Tây ca nhạc triền miên từng ngày
           Chừ đây tịch tĩnh hiên này
      Xôn xao ai biết quấy rầy đôi tai ...

                                      Bình Tam Lê

(Đây là bút danh của thầy Lê Tương Ứng)


Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2018

Kas Krobei-Prei Nokor Theo Dòng Thời Gian P 1



Kas Krobei-Prei Nokor Theo Dòng Thời Gian P 1

Vùng đất mà cha anh chúng ta đã từng làm bàn đạp để mở cõi về phương Nam là một vùng đất nổi tiếng với hào khí Đồng Nai, mà bây giờ là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa cho cả miền Nam: Kas Krobei-Prei Nokor hay vùng đất mà bây giờ chúng ta gọi là vùng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, là một vùng có lịch sử cư dân lâu đời, chứ lưu dân Việt Nam không phải là những cư dân đầu tiên của vùng đất nầy. Khoảng trên 6.000 năm trước đây, vùng đất mà bây giờ là Nam Kỳ của chúng ta vẫn chưa được hoàn toàn ổn định vì những hiện tượng ‘biển tiến’ và ‘biển thoái’ liên tục trong khoảng thời gian vài ngàn năm. Vùng đất nầy chỉ có cư dân từ các đảo phía Nam đến cư trú sau khi những hiện tượng ‘biển tiến’ và ‘biển thoái’ đã ổn định. Kỳ thật, vùng đất nằm về phía Nam bán đảo Đông Dương cũng không phải là của người Chân Lạp, mà là của người Phù Nam từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII. Người Phù Nam đến từ các đảo phía Nam, họ mang theo văn hóa của tổ tiên họ đến đây để thành lập nên vương quốc Phù Nam từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII. Đây là thời kỳ rực rỡ nhất của văn hóa Óc Eo. Từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ IX, sự tan rã của vương quốc Phù nam đã có tác động và ảnh hưởng đến toàn miền Nam của bán đảo Đông Dương. Đầu thế kỷ thứ IX, vương quốc Chân Lạp thống nhất hai miền Thủy và Lục Chân Lạp, mở đầu cho thời đại Angkor. Tuy nhiên, trong suốt ba thế kỷ, IX, X và XI, vùng đất Prei Nokor hầu như không bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa Angkor. Như vậy, coi như kể từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XVII, người Chân Lạp chỉ mặc nhiên sáp nhập vùng đất nầy vào lãnh thổ của mình khi vương quốc Phù Nam không còn nữa, chứ trên thực tế họ chưa bao giờ xác lập chủ quyền hay thiết lập chánh quyền địa phương tại đây. Thật tình mà nói, trong suốt 10 thế kỷ trôi qua, từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XVII, chưa có một vị Miên vương nào tỏ ra bận tâm đến sự mất còn của vùng hoang địa nầy(20). Vào thế kỷ thứ XVII, khi những lưu dân người Việt đầu tiên tới đây, họ chỉ thấy rải rác đó đây một vài Sóc Miên được định cư bởi những người Miên phiêu lưu, hoặc những người Miên cùng khổ, không sống được ở vùng Lục Chân Lạp, nên họ đánh liều đi về vùng Thủy Chân Lạp để tìm lẽ sống cho gia đình. Ngoài vùng Prei Nokor và đồng bằng sông Cửu Long ra, lúc nầy người Việt còn đến làm ăn và định cư rải rác trong đồng bằng sông Mê Nam(21).
Vào khoảng thế kỷ thứ nhất, toàn vùng đất Phù Nam hầu như quanh năm ngập lụt, duy chỉ vùng Prei Nokor tương đối cao hơn, còn các vùng khác thì nước chỉ rút vào mùa khô mà thôi. Ngày nay chúng ta không có nhiều sử liệu về vương quốc Phù Nam nên khó mà biết được họ đã rời bỏ vùng Prei Nokor vì lý do gì, rất có thể họ không thể sống hòa đồng với những người bản địa lâu đời tại đây như những người Mạ, Châu Ro, Chu Ru, Stiêng, vân vân, nên họ bỏ đi giống như bản chất của những người Khmer nối gót họ về sau nầy, mỗi lần có điều gì xích mích với người Việt thì họ chửi rủa rồi bỏ đi. Dầu có bao nhiêu bộ tộc hay dân tộc đã từng sinh sống trên vùng đất nầy đi nữa, thật tình mà nói, chưa có chứng cớ về sự xác lập chủ quyền của bất cứ dân tộc nào khác, ngoại trừ người Việt Nam.
Ngay từ các triều đầu đời vua Lê, các ngài đã biết vùng đất Thủy Chân Lạp nói chung và vùng Kas Krobei-Prei Nokor nói riêng, nguyên là của Chân Lạp (Chenla). Đây là vùng đất đai phì nhiêu mầu mỡ, nhưng chưa được khai phá nên đa phần hãy còn hoang vu. Thời đó các ngài chưa để ý đến việc chinh phục vì mỗi năm vua xứ Chân Lạp (Nam Phiên) đều triều cống. Tuy nhiên, các chúa Nguyễn cho phép người dân được tự nhiên vào đây khai phá và chiếm hữu đất đai, lại còn cho họ có quyền thâu nhận những người mọi để làm đầy tớ. Đến thế kỷ XVII, sau khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả công nữ Ngọc Vạn cho Miên vương Chey Chetta II (1620), thì lưu dân người Việt từ Thuận Quảng mới bắt đầu đổ xô vào đây khai phá đất mới theo lời kêu gọi của công nữ. Như vậy trước khi những lưu dân người Việt đến đây khai phá đất hoang thì chủ quyền của cả một vùng đất bao la bạt ngàn nầy thuộc về ai? Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn, từ các cửa biển như cửa Cần Giờ và Soài Rạp, vân vân, đi vào toàn là rừng rậm hoang vu, đây là vùng cư trú của nhiều nhóm dân tộc thiểu số mà người Việt gọi họ là người “Man”(22). Thời đó, các chúa Nguyễn cho phép người dân được tự nhiên khai phá và chiếm hữu đất đai, lại còn cho họ có quyền thâu nhận những người mọi để làm đầy tớ. Theo các di chỉ khảo cổ từ thời Pháp thuộc đến nay cho thấy văn hóa của các dân tộc cư trú trên vùng đất nầy có liên hệ đến văn hóa Óc Eo và hậu Óc Eo. Như vậy vùng đất nầy đã từng thuộc về người Phù Nam từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ bảy. Về danh nghĩa mà nói thì từ thế kỷ thứ bảy trở về sau nầy nó trực thuộc Chân Lạp. Tuy nhiên, trên thực tế thì mãi đến thế kỷ thứ XIII khi Châu Đạt Quan đi ngang đây và mãi đến thế kỷ thứ XVII khi những lưu dân Việt Nam đầu tiên đến đây, vùng đất nầy vẫn còn là một vùng đất hoang vu vô chủ.
Vào năm 1620, một biến cố lịch sử quan trọng đã xảy ra vào tiền bán thế kỷ thứ XVII, đó là cuộc hôn nhân của công nữ Ngọc Vạn với Miên vương Chey Chetta II. Có nhiều người cho rằng, chính nhờ cuộc hôn nhân nầy mà Miên vương Chey Chetta II đã nhân nhượng cho xứ Đàng Trong rất nhiều thứ, ngay cả những đất đai của vùng Thủy Chân Lạp. Tuy nhiên, nếu chúng ta lật lại những trang sử cũ vào thời kỳ này thì chúng ta sẽ thấy vua Chey Chetta II(23) không phải tự nhiên nhường đất Thủy Chân Lạp cho Việt Nam, mà thời ấy nước Chân Lạp quá suy yếu nên ông muốn tựa vào Việt Nam như một điểm tựa, vì thế trong cuộc hôn nhân ông chỉ cho dân Nam một quy chế dễ dàng trong sinh hoạt ở vùng Đồng Nai và Sài Gòn, chứ không dâng một chút đất nào hết cho Việt Nam, đổi lại ông được nhạc phụ là chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên bao lần đem quân sang giúp đánh đuổi giặc Xiêm ra khỏi bờ cõi.
Trong những năm từ 1621 đến 1623, nhờ sự trợ giúp của chúa Nguyễn mà Chey Chetta II đã đuổi được quân Xiêm ra khỏi bờ cõi. Như vậy phải công tâm mà nói trong cuộc hôn nhân này, nhứt thời nước Miên có lợi nhiều hơn Việt Nam, nhưng về lâu về dài thì ngay từ thời điểm ấy, nước Miên trúng phải kế hoạch “Tầm ăn dâu” của Việt Nam. Chính vì thế mà kể từ sau khi công nữ Ngọc Vạn ra đi làm dâu xứ Chân Lạp, từng thời từng thời, những đất đai của xứ Thủy Chân Lạp lần lượt rơi vào tay Việt Nam một cách ôn hòa, chứ chưa có một cuộc chiến tranh giành đất nào giữa Việt Nam và Miên tại Nam Kỳ.
Năm 1623, sau khi giúp Chân Lạp đánh thắng được quân Xiêm, công nữ Ngọc Vạn đã tâu với Miên vương khi một phái đoàn của triều đình Thuận Hóa đã đến Nam Vang, xin vua Chey Chetta II cho người Việt tự do vào cư ngụ trong Prey Nokor và lập hai cơ quan thu thuế, cũng như đặt đồn binh tại vùng mà bây giờ là Cầu Kho, để phòng khi có việc là kéo quân lên Nam Vang tiếp trợ ngay(24). Vua Miên đã chuẩn thuận ngay vì lợi ích trước mắt là nhà vua có quân tiếp trợ bất cứ lúc nào, vả lại đất Prey Nokor đã thu được từ dân tộc Phù Nam từ sau thế kỷ thứ VII, mà cho tới thời bấy giờ (1623) vẫn chưa có cư dân Chân Lạp trú ngụ, vì vùng này toàn là đầm lầy hoang vu, đất thì thấp hơn mực nước biển nên người Chân Lạp, vốn là dân bán du mục không chịu đến để khai khẩn. Đây là lần đầu tiên người Việt chính thức đặt chân lên đất Chân Lạp, và vùng Mô Xoài (Bà Rịa) và Prei Nokor (Sài Gòn) là những bàn đạp để người Việt tiến dần xuống đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời, xứ Đàng Trong đã đặt hai trạm thu thuế tại đây. Lúc nầy khu vực quan trọng của Bến Nghé nằm ở bờ bên phải sông Sài Gòn, từ vàm rạch Thị Nghè ăn ra Nhà Bè. Đến cuối thế kỷ thứ XVII, xứ Đàng Trong cho phép những di thần nhà Minh tỵ nạn Mãn Thanh đến vùng Nông Nại khẩn hoang lập ấp. Khi những người Minh Hương nầy đến Bến Nghé, họ được các viên chức địa phương tại đây dẫn đường cho họ lên Biên Hòa và về Meso (Mỹ Tho ngày nay). Lúc bấy giờ vùng Bến Nghé đã có đồn Dinh(25) cai quản. 
Đến năm 1625 thì vua Chey Chetta II băng hà (có sách chép là 1626), trong khi triều chính rối loạn, để bảo vệ cho các con nên công nữ Ngọc Vạn đem hai con về vùng Mô Xoài Bà Rịa ẩn thân, vì nơi đây bà đã cho lập xóm làng vào những năm 1620 và 1621. Sử Chân Lạp còn ghi lại: “Khi quốc vương Chey Chetta II băng hà, tất cả vùng thuộc miền Nam từ Prey Nokor đến ranh giới với Chiêm Thành đều do người Việt cai trị.” Trong khi đó ở Nam Vang thì Nặc Ông Chân, con của một bà hoàng hậu người Lào, đã lên ngôi trị vì Chân Lạp. Ông Chân lấy vợ người Mã Lai, theo đạo Hồi nên rất hung hãn muốn tiêu diệt đạo Phật và muốn biến Hồi giáo làm quốc giáo cho Chân Lạp.
Đến năm 1658, tức là 35 năm sau ngày chúa Nguyễn lập hai đồn thu thuế ở Kas Krobei và Prei Nokor, đời vua Lê Thần Tông, niên hiệu Vĩnh Thọ, đời chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần, các chúa Nguyễn gọi vùng Trấn Biên(26) là các vùng Phú Yên và Song Cầu ngày nay, chứ không nhất thiết phải là vùng Biên Hòa ngày nay. 
Thời điểm 1658, Nặc Ông Chân tìm dấu vết của bà Ngọc Vạn đang ẩn náu ở vùng Mô Xoài (Bà Rịa) để tiêu diệt hai vị hoàng tử là con chính thức của bà và vua Chey Chetta II(27). Trước tình thế đó công nữ Ngọc Vạn phải cầu cứu với chúa Hiền Vương. Chúa sai Nguyễn Phúc Yên (có sách viết là Tôn Thất Yến), cùng Phó Tướng quân Yến Vũ, Tham Mưu Minh Lộc Hầu và Tiên Phong Cai Đội Xuân Thắng Hầu, đưa 3.000 quân vào đánh Nặc Ông Chân. Ông Chân thua trận và bị bắt vào cuối năm 1658 tại khu núi Mô Xúy, tức vùng Định Quán, thuộc Long Khánh ngày nay. Năm sau 1659 (Kỷ Hợi), Nặc Ong Chân được tha về nước, Chân Lạp bèn dâng đất Nông Nại (Biên Hòa) để tạ ơn. Về sau, đến đời vua Réam Thip Dei Chan (1642-1659), em vua Chey Chetta II, bà Ngọc Vạn lại xin cho người Việt được quyền khai thác toàn vùng miền Đông Nam Phần ngày nay.

------------
Để tiện theo dõi "Đất Phương Nam 1", kính mời Quí Độc Giả mở Link bên dưới:

https://huynhhuuduc.blogspot.com/p/blog-page_53.html

***

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2018

Cảm Đề Họp Mặt Tháng 12- 2014



Mỗi năm đầu tháng thứ mười hai
Ai biết nơi đâu có một ngày
Bút mực xa xưa vui họp mặt
Bánh quà hiện đại quý trao tay
Nêu cao ân nghĩa thờ công đức
Sống mãi tinh thần cưỡi gió mây
Sư đệ trùng phùng bao mỹ cảm
Chúc nhau PHƯỚC THỌ toại lòng thay!

                           Thầy Lê Tương Ứng
                                 Ngày 1-1-2015
Cảm Đề Họp Mặt Thầy Cô Tống Phước Hiệp cũ:
Quí,Ứng,Nhã,Thuận,Liêm 14-12-2014
***
Thưa Thầy,
Nhận được bài thơ Thầy gởi, em vô cùng xúc động. Xin được hoạ bài thơ của Thầy:

              Đáp Đề

Tình nghĩa Sư Đồ ráng vẹn hai
Cả năm mòn mỏi đợi chờ ngày
Thấy Thầy mạnh khoẻ yên nơi dạ
Gặp Bạn vui mừng nắm giữ tay
Tá vận đôi câu tình cố hữu
Vi sư một chữ nghĩa trời mây
Suốt mười hai tháng trong lần gặp
Sâu đậm Thầy Trò chẳng đổi thay

                        Huỳnh Hữu Đức
(Em thật vui khi Thầy hài lòng về buổi họp mặt 14-12-2014 vừa qua)



***

Thứ Tư, 5 tháng 12, 2018

Chia Buồn cùng Tang Quyến Thầy Lê Tương Ứng.



Chia Buồn
 
Được tin thầy Lê Tương Ứng vừa mãn phần tại tư gia vào lúc 18 giờ 30 phút, ngày 04-12-2018 nhằm ngày 28 tháng 10 năm Mậu Tuất. 
Chúng Em Cựu học Sinh trường Trung Học Tống Phước Hiệp Vĩnh Long Niên Khóa 1962-1969, Thành kính chia buồn cùng tang quyến. Cầu nguyện hương linh Thầy được sớm tiêu diêu nơi miền cực lạc.

CHS Tống Phước Hiệp NK 62-69
            Đồng Kính Phân Ưu

***

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2018

Con quỷ nhốt trong lọ



Ngày xưa có một bác tiều phu nghèo khổ. Bác luôn luôn phải làm việc từ sáng sớm đến tối mịt. Mãi rồi bác cũng dành dụm được ít tiền. Bác bảo con trai: “Con ơi, con là con một, bố muốn dành tiền này để con học hành, bố đã kiếm số tiền này bằng mồ hôi nước mắt. Con hãy học lấy một nghề lương thiện để sau này nuôi dưỡng bố khi bố già yếu, chân tay cứng đờ, không làm ăn gì được nữa, phải ngồi ở xó nhà”.

Chàng thanh niên bèn xin vào một trường cấp cao và học hành rất siêng năng. Các thầy dạy khen ngợi hết lời, và anh ta học ở đó một thời gian dài. Sau đó, anh ta đã học qua nhiều trường khác. Nhưng chưa học được hết thì số tiền ít ỏi mà bố dành dụm được đã tiêu tán hết. Anh ta phải trở về nhà.

“Chà! – Ông bố nói – Bố không còn gì để cho con nữa. Ngày nay, đời sống đắt đỏ, bố không thể kiếm thêm được đồng nào ngoài tiền mua bánh mì hàng ngày.”

“Thưa bố,” người con trả lời, “bố đừng bận tâm đến điều đó làm gì. Con sẽ tự lo lấy.”

Khi người bố vào rừng để chặt gỗ kiếm ít tiền, thì con bảo:

– Bố cho con đi cùng, con sẽ giúp bố.

– Đối với con, công việc này quá vất vả quá – bố trả lời – con chưa quen loại công việc nặng nhọc này. Con không đảm đương nổi đâu. Vả lại, bố chỉ có một cái rìu, không có tiền mua cái thứ hai

– Thì bố hãy sang nhà bác hàng xóm, – người con ngắt lời cha – bác sẽ cho bố mượn một cái rìu, cho đến khi nào con kiếm được đủ tiền mua cái mới.

Người bố sang hàng xóm mượn một cái rìu. Sớm tờ mờ hôm sau, hai bố con cùng vào rừng. Anh thanh niên làm việc giúp bố. Anh ta cảm thấy tỉnh táo và sảng khoái. Khi mặt trời mọc tới đỉnh đầu, người bố bảo:

– Chúng ta hãy nghỉ trưa và ăn một chút. Sau làm sẽ khỏe hơn.

Người con cầm lấy phần bánh và trả lời:

– Bố hãy nghỉ ngơi đi. Còn con, con chưa mệt. Con đi dạo trong rừng một chốc để tìm tổ chim.

– Thằng bé huênh hoang, – người bố càu nhàu – sao mày lại đi dạo, mày sẽ mệt và không giơ nổi cánh tay lên đâu. Hãy nghỉ ngơi ở đây, ngồi đây với tao.

Mặc dầu người bố nói thế, người con vẫn đi vào rừng sâu. Anh ta ăn bánh, tâm hồn vui vẻ, anh nhìn lên các cánh cây để tìm kiếm một cây sồi to lớn, chắc sống đã mấy trăm năm, năm người nắm tay nhau vây vòng quanh thân cây vẫn chưa kín. Anh ta dừng chân, nhìn cây sồi khổng lồ và nghĩ: chắc chắn là có nhiều chim làm tổ ở đây. Bất thình lình, anh nghe phảng phất có tiếng nói khẽ. Anh lắng tai nghe thấy “Cho tôi ra khỏi đây! Cho tôi ra khỏi đây!” Anh nhìn quanh, nhưng không thấy ai cả. Hình như tiếng nói ở dưới đất đưa lên. Anh kêu lên:

– Anh ở đâu?

Tiếng nói trả lời:

– Tôi ở đây, ở dưới này, gần rễ cây sồi. Cho tôi ra với! Cho tôi ra với!

Anh học trò sục sạo mặt đất, quanh gốc cây sồi, tìm kiếm ở các rễ cây. Bất chợt anh nhìn thấy một cái lọ thủy tinh nằm sâu trong một cái hốc nhỏ. Anh cầm lọ soi lên ánh sáng mặt trời. Anh nhìn thấy một vật giống như con nhái, nhảy nhót trong lọ. “Cho tôi ra với! Cho tôi ra với!” con vật không ngừng kêu. Không nghĩ gì đến nguy hiểm, anh học trò mở nút lọ. Lập tức con quỉ chui ra khỏi cái lọ và lớn dần, lớn dần, nhanh đến nỗi một thoáng đã trở thành một người khổng lồ kinh khủng to, bằng nửa cái cây, đứng trước mặt anh.

– Mày có biết mày sẽ được trả công cứu tao thế nào không? -Con quỉ hỏi anh với một giọng dễ sợ.



– Không – anh học trò trả lời và không cảm thấy sợ tý nào.

Con quỉ gầm lên:

– Tao sẽ đập bể đầu mày ra!

– Sao mày không bảo tao lúc nãy, – anh thanh niên nói – mày ở đâu tao sẽ để mày ở đó. Nhưng mày cũng không đập bể được đầu tao đâu. Không phải mày quyết định được một mình!

– Không quyết định được một mình! Không quyết định được một mình! – Con quỉ kêu lên – Mày tưởng thế thôi. Thế mày tưởng là vì tao tốt mà người ta nhốt tao lâu thế à, đồ ngu! Không đâu! Đấy là để trừng phạt tao! Tao là thần Macguya có uy lực. Tao phải bẻ gãy cổ kẻ nào thả tao ra.

– Này! – Anh học trò trả lời – đừng quá vội! Trước hết tao phải biết có phải đúng là mày đã ở trong cái lọ nhỏ kia không và có phải mày là con quỉ thật không. Mày lại chui được vào lọ thì tao mới tin. Sau đó thì mày tha hồ muốn làm gì tao thì làm.

Giọng đầy kiêu ngạo, con quỉ nói:

– Cái đó dễ thôi! – Nó thu nhỏ mình lại, nhỏ bé như lúc trước, nhỏ đến mức có thể lọt qua cái loa nhỏ của miệng lọ, nó lại chui vào lọ. Nó vừa chui vào thì anh học trò vội đậy nút lọ lại và vứt cái lọ xuống dưới rễ cây sồi, đúng chỗ đã tìm thấy nó. Thế là quỉ ta đã bị vào tròng. Anh con trai chuẩn bị đi về chỗ bố ngồi. Nhưng con quỉ kêu la, van nài anh: “Hãy cho tôi ra! Hãy cho tôi ra!”

– Không! – Anh học trò trả lời. – Không có một lần thứ hai đâu!

Khi cuộc sống của ta bị đe dọa, không khi nào ta lại thả kẻ thù ta ra một khi ta đã thoát nạn.

– Nếu anh cho tôi được tự do – con quỉ lại nói – tôi sẽ cho anh của cải để sống suốt đời.

– Không! – anh con trai lại nói – Mày lại đánh lừa tao như lần đầu thôi.

– Xin đừng bỏ lỡ dịp may, – con quỉ nói – tôi sẽ không hại anh đâu, tôi sẽ thưởng cho anh tiền của mà!

Anh học trò nghĩ: “Ta cứ thử xem sao. Có thể nó sẽ giữ lời hứa”. Anh mở nút lọ, và cũng như lần trước, con quỉ ra khỏi cái lọ, lớn dần và trở thành khổng lồ.

– Tôi sẽ trả công anh – quỉ nói, nó đưa cho anh một cái khăn nhỏ giống như cuộn băng và nói – Nếu anh sát đầu này vào một vết thương thì vết thương sẽ lành. Nếu anh sát đầu kia vào thép hoặc sắt thì sắt thép sẽ biến thành bạc.

– Để ta thử đã, – anh học trò nói. Anh đến gần một cái cây, dùng rìu chém đứt vỏ cây ra rồi lấy một đầu khăn chà xát vào đó. Chỗ đứt liền ngay. “Đúng là thế!” anh bảo con quỉ “Giờ thì chúng ta có thể chia tay nhau”. Con quỉ cảm ơn anh đã cứu thoát nó, anh học trò thì cảm ơn con quỉ về món quà và anh đi gặp bố.

– Mày đi đâu về thế? Người bố hỏi. – Tại sao mày quên cả công việc? Tao đã bảo mày không làm nên trò trống gì đâu

– Xin bố hãy bình tĩnh, con sẽ làm bù.

– Ôi, làm bù ư! – Người bố nổi giận – nói thế mà cũng nghe được!

– Bố hãy nhìn này, con sẽ chặt cây này thật mạnh cho nó đổ.

Anh lấy khăn lau lưỡi rìu và chém thật lực một nhát. Nhưng sắt đã biến thành bạc, lưỡi rìu bị mẻ. Bố nhìn này! Cái rìu bố đưa cho tồi quá, nó đã bị quằn rồi!

Người bố sợ hãi nói:

– Mày làm thế nào vậy! Sẽ phải đền cái rìu thôi. Lấy gì mà đền bây giờ? Đấy là kết quả công việc mày làm đấy!

– Xin bố đừng cáu giận, người con nói, con sẽ chi tiền cái rìu.

– Thằng này láo thật, – người bố kêu lên, – mày lấy gì mà chi nào? Ngoài số tiền tao cho ra, mày chẳng có gì cả. Mày chỉ có cái đầu ngu xuẩn của thằng học trò chẳng biết gì về công việc thợ rừng cả.

Một lúc sau, anh học trò nói:

– Bố ơi, con không làm được nữa. Bố con ta hãy nghỉ thôi!

– Sao lại thế, – người bố đáp. – Thế mày cho là tao mà lại chịu khoanh tay như mày à? Tao phải làm chứ. Còn mày thì có thể về được đấy.

– Thưa bố, con mới đến đây lần đầu tiên, con không tìm được đường về một mình. Bố hãy về với con.

Người bố lúc đó đã nguôi giận, cùng con ra về. Ông bảo con:

– Hãy bán cái rìu hỏng đi. Để xem mày bán được bao nhiêu. Còn thiếu bao nhiêu thì tao phải bù vào trả bác hàng xóm.

Người con mang lưỡi rìu đến cửa hàng vàng bạc ở đô thị. Ông chủ cân lưỡi rìu rồi nói:

– Lưỡi rìu này giá bốn trăm đồng. Nhưng tôi không có đủ tiền mặt.

– Có bao nhiêu thì ông đưa tôi, chỗ còn lại ông trả tôi sau. – Anh thanh niên trả lời. Ông chủ hiệu vàng bạc đưa trả anh ba trăm đồng và hẹn sẽ trả một trăm đồng nợ sau.

Anh học trò về nhà nói:

– Bố ơi, tiền đây. Bố hãy chạy sang bác hàng xóm hỏi xem bác bắt đền cái rìu bao nhiêu tiền.

– Tao biết rồi, – người bố nói: một đồng và sáu xu!

– Vậy thì bố hãy trả bác ấy hai đồng một hào hai. Trả gấp đôi thế là được quá rồi. Bố nhìn này, con có tiền thừa thãi. – Anh đưa cho bố một trăm đồng và nói: – Bố sẽ không bao giờ thiếu tiền nữa! Bố cứ sống thoải mái đi!

– Trời ơi! Người bố kêu lên: làm thế nào mà mày có nhiều tiền thế?

Anh học trò đã kể cho bố nghe sự việc đã xảy ra làm sao, nhờ gặp may mà anh được giàu có. Với số tiền còn lại, anh trở lại trường và tiếp tục học. Anh dùng cái khăn chữa được mọi vết thương, và trở thành thầy thuốc lừng danh thiên hạ.

Theo : truyencotich.vn/truyen-co-tich/co-tich-the-gioi

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2018

Nhái & Họa Thơ Cụ Nguyễn Thượng Hiền



HỎI HOA

Hỏi hoa xin mượn mùi hương
Hỏi trăng xin mượn gương vàng thử soi
Hỏi non xin mượn đá ngồi
Hỏi sông mượn nước tắm chơi sạch mình
                            Nguyễn thượng Hiền  

***

Nhái và Họa Thơ Cụ Nguyễn Thượng Hiền 

Hỏi hoa tìm chút dư hương
Hỏi trăng xin mượn ánh vàng để soi
Hỏi non sao đứng chẳng ngồi
Hỏi sông sao mãi rong chơi một mình.
                                      Quên Đi  
***

                                

   
                  

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2018

Thông Báo - Thư Mời Họp Mặt Lần 10 Cựu Học Sinh Tống Phước Hiệp Vĩnh Long Niên khóa 1962-1969 và Thân Hữu.



Thông Báo - Thư Mời Họp Mặt Lần 10
Kỷ Niệm 10 Họp Mặt : Tháng 12/ 2009 - Tháng 12/ 2018
Cựu Học Sinh Tống Phước Hiệp Vĩnh Long Niên khóa 1962-1969 và Thân Hữu.

- x  X  x -

Trân trọng kính mời Anh, Chị, Em Cựu học sinh trường Trung học Tống Phước Hiệp Vĩnh Long niên khóa 1962-1969 và Thân Hữu, đến dự buổi Họp mặt thường niên lần thứ 10, đồng thời Kỷ niệm 10 năm Họp mặt của khối lớp Chúng ta cùng Thân hữu.
Thời gian :  10 giờ ngày 09 tháng 12 năm 2018.
Địa Điểm : Nhà hàng Thiên Tân, đường Phạm Thái Bường, phường 4, thành phố Vĩnh Long. (gần Đài phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long).
Sự hiện diện của Anh, Chị, Em và Thân hữu, sẽ làm tăng thêm phần long trọng và niềm vui cho buổi Họp mặt.

Thay mặt Ban Tổ Chức
     Huỳnh Hữu Đức
         Kính Mời

* Mọi thắc mắc xin liên lạc:
  -- Võ Thị Tuyết Nga : sđt 0938444255
   - Lê Xuân Mai         : sđt 0909598589
   - Lê Ngọc Điệp        : sđt 0918066445
   - Huỳnh Hữu Đức    : sđt 0942332776

***