Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

Sự Tích Trái Dưa Hấu




Đời xưa, thời vua Hùng Vương, đất nước ta có núi cao, có sông rộng, trời đẹp nắng vàng, nhưng đồng ruộng thưa thớt, hoa quả chưa có nhiều thứ thơm ngọt như bây giờ. Vua Hùng Vương thứ mười bảy có một người con nuôi là An Tiêm có tài tháo vát và có trí hơn người. Vua yêu mến An Tiêm thường ban cho của ngon vật quý.
Thói thường, các quan được một chút lộc vua thì nâng niu ca tụng; riêng An Tiêm thường bảo: "Của biếu là của lo, của cho là của nợ!" và xem thường các thứ ấy. Việc đến tai vua, vua giận lắm, bảo: "Đã thế ta cho nó cứ trông vào tài sức của nó xem có chết rũ xương ra không".
Thế là một buổi sớm, tự nhiên An Tiêm thấy lính đến giải cả chàng lẫn vợ con xuống thuyền, chẳng cho mang theo một cái gì hết. Chàng nói mãi chúng mới để cho đem một cái gươm cùn hộ thân. Buồm căng gió, thuyền tròng trành nhằm biển khơi thẳng tiến. Bãi cát trắng, vệt cây xanh trong bờ lần lượt khuất đi, rồi bèo bọt, rác rểu, dấu vết của dân cư cũng không còn nữa, bây giờ chỉ thấy trời với nước xanh ngắt một mầu.
Hôm sau thuyền đến một đảo nhỏ. Họ để gia đình An Tiêm lên bờ với năm ngày lương thực, một chiếc nồi, rồi nhổ neo quay lái. Nàng Ba, vợ An Tiêm, bế con nhìn theo chiếc thuyền dần dần ra xa rồi khuất mất, nước mắt nhỏ như mưa. Từ nay có bao giờ nàng lại được cùng hàng xóm chia nhau những bắp ngô đầu mùa, hay nói một câu chuyện gia đình dưới ánh trăng! Quay vào hòn đảo hoang vu nàng lại càng khiếp sợ hãi hùng, không biết rồi đây lấy gì mà ăn để sống tạm cho qua ngày tháng.
An Tiêm dắt vợ con tìm được một cái hốc đá ở tạm. Rồi chàng cắp gươm đi thăm dò. Hòn đảo quả thật hoang vu, chỉ có ít cây cỏ lơ thơ và mấy loài chim biển. Tìm mãi mới thấy vài thứ quả chát chua và rau dại ăn tạm cho đỡ đói. Từ đấy, ngày ngày An Tiêm trồng rau và tìm quả, nàng Ba thì ra bờ biển mò con ngao, cái hến. Đứa con lớn của An Tiêm bắt chước cha cũng cặm cụi làm bẫy đánh chim. Nhưng rồi chim dần dần quen bẫy, có khi suốt ngày thằng bé không bắt được một cái lông. Cá nhiều nhưng không lưới, quả thì có mùa. Cho nên thức ăn chính của vợ chồng con cái An Tiêm vẫn là mấy thứ rau dại mà chàng trồng thành rau vườn. Cuộc đời của bốn người vô cùng lao đao, vất vả, chẳng khác giống chim muông bao nhiêu. Tuy vậy An Tiêm vẫn tin rằng một ngày kia, mình có thể làm cho đời sống khá lên.
Một hôm có con chim đương ăn ngoài bãi thấy An Tiêm đến, vội bay đi, bỏ lại một miếng mồi đo đỏ. An Tiêm cầm lên xem thì là một mảnh quả dưa bằng hai ngón tay. Chàng nghĩ thầm chim ăn được có lẽ người cũng ăn được, bèn nếm thử thì thấy có vị ngọt. Chàng ăn hết miếng dưa và nhặt hạt gói lại. Ngồi nghỉ một lát thấy mát ruột, đỡ đói, chàng có ý mừng, lấy gươm xới một khoảnh đất mà gieo hạt xuống.
Ít ngày sau mấy hạt dưa mọc mầm đâm lá, bò tỏa ra khắp khoảnh đất. Nàng Ba cũng giúp chồng sớm chiều săn sóc mấy dây dưa lạ. Vợ chồng hồi hộp trông thấy mấy cái hoa đầu tiên hé nở, rồi hoa kết quả, lúc đầu bằng ngón tay út, ít lâu sau đã như con chuột, rồi con lợn con. Thấy nó lớn mãi như không bao giờ thôi, An Tiêm cũng không biết lúc nào nên hái.
Một buổi sớm tinh mơ, nghe tiếng quạ kêu ngoài bãi, nàng Ba bảo chồng:
- Ở đây hoang vắng, quạ không tụ họp bao giờ, nay chúng nó kêu inh ỏi một nơi, tất là có sự lạ. Anh ra xem thế nào!
An Tiêm ra đến bãi thì đàn quạ bay đi bỏ lại quả dưa chúng vừa mổ thủng vài nơi. Chàng cắt dưa về. Khi chàng bổ dưa ra, cả nhà lóa mắt vì mầu đỏ tươi của ruột dưa. Đây đó giữa mầu đỏ, có những hạt đen như hạt huyền và bọc ngoài một lớp vỏ trắng viền xanh. Hai đứa bé thèm nhỏ nước rãi, nàng Ba thì cứ tấm tắc khen quả trông ngon mắt. An Tiêm cẩn thận cắt cho mỗi người một mảnh nhỏ ăn thử. Bốn người như một, khen ngợi cái vị thanh ngọt, cái mùi thơm nhẹ nhàng của quả lạ, ăn vào không những không xót ruột lại còn thấy đỡ khát và khỏe người ra. Đến trưa, An Tiêm mạnh dạn bổ hết quả dưa cho con ăn đến no.
Bấy giờ cả nhà An Tiêm mừng rỡ, bồng bế nhau ra bãi, chọn những quả sẫm mầu da đem về, còn lại thì thay phiên nhau canh quả. Và từ đấy, họ cứ trồng thêm ra mãi. Tất cả nông cụ chỉ gồm có một cái gươm cùn và mấy hòn đá mài bén, vì vậy thêm một gốc dưa là thêm không biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt. Nhưng họ chăm sóc hết lòng, nhờ vậy giống dưa càng ngày càng sai, quả càng to, thịt dày thêm mãi, vỏ mỏng dần đi, vị càng thơm ngọt. Cứ mỗi lần hái dưa, An Tiêm lấy mấy quả đánh dấu thả ra biển. Dưa trôi biệt tăm tích không biết bao lần, trăng non rồi trăng già không biết bao bận, An Tiêm vẫn không ngã lòng. Quả nhiên một hôm có một chiếc thuyền ghé đến hỏi xem ai đã trồng được giống dưa quý, để đổi về đem bán trên đất liền. Từ đấy An Tiêm đổi được các thức ăn dùng thường ngày và còn cất được một cái nhà lá xinh xinh.
Về phần vua Hùng Vương, từ ngày bỏ An Tiêm ra hoang đảo, vua yên trí rằng An Tiêm đã chết rồi, đôi khi nghĩ đến cũng có bùi ngùi thương hại. Cho đến một ngày kia, thị thần dâng quả dưa lạ, vua ăn ngon miệng bèn hỏi thăm tung tích, mới biết là do An Tiêm trồng ngoài đảo. Vua ngẫm nghĩ thấy mình sai, cho thuyền ra đón gia đình An Tiêm. An Tiêm và nàng Ba mừng rỡ, thu lượm hết những quả dưa chín và hạt giống đem về phân phát cho bà con hàng xóm, và truyền dạy cách gieo trồng, chăm bón. Đó là nguồn gốc giống dưa hấu mà chúng ta ăn ngày nay.
Về sau khắp nước ta đều có giống dưa hấu. Nhưng người ta nói chỉ có huyện Nga Sơn là trồng được những quả ngon hơn cả, vì nơi ấy xưa là hòn đảo An Tiêm ở, trải qua mấy nghìn năm nước cạn, cát bồi nay đã liền vào với đất. 
 
Lời bình 

Truyện "Sự tích dưa hấu" thuộc nhóm truyện giải thích nguồn gốc của sự vật, ở đây là giống dưa hấu khá to, quả tròn có quả nặng 3 kg, 5 kg, ruột đỏ, vỏ xanh đậm, ăn ngọt mát, vừa có tác dụng giải khát, vừa có tác dụng bồi bổ sức khỏe. Tại sao lại có tên là dưa hấu? Theo một tài liệu có đăng trên tạp chí Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh số Tết Bính Tý, thì sở dĩ có tên "hấu" vì người Việt khi thấy một khách thương người Hoa vừa ăn dưa, vừa khen "hảo! hảo" nên nhại lại chệch âm thành hấu. Kỳ thực loại dưa này từng có tên khác là "Quả dưa đỏ" mà xưa kia hồi đầu thế kỷ 20 Nguyễn Trọng Thuật từng phóng tác thành tiểu thuyết. Tiếp đó vào những năm trước 1975, nhà văn Tô Hoài một lần nữa lại chuyển thể truyện cổ tích này thành tiểu thuyết với tên "Đảo hoang". Lại có lúc truyện được mang tên "Mai An Tiêm", với kiểu truyện dùng tên nhân vật chính. Và nhân vật chính ở đây lại là con nuôi vua Hùng thứ mười bảy. Như vậy tùy theo nhan đề truyện mà có hướng tiếp cận, tìm hiểu truyện khác nhau. Với nhan đề "Sự tích dưa hấu", truyện nghiêng về phía giải thích nguồn gốc sự vật. Còn với nhan đề "Mai An Tiêm", truyện lại nghiêng về phía nhân vật. Nhưng dù với nhan đề gì, thì truyện cổ tích này vẫn là một câu chuyện viết về nhân vật Mai An Tiêm với các phẩm chất luôn khẳng định bản tính tự lực cánh sinh, tin vào sức lao động của mình, bền bỉ kiên trì vượt qua mọi sự thử thách khắc nghiệt để tồn tại và phát triển. Nhờ nghị lực phi thường đó, chẳng những Mai An Tiêm đã thắng được sự thách đố của nhà vua mà còn tạo cho đất nước một loại cây quả quý giá: cây dưa hấu.

Câu chuyện gồm 3 phần: 

Phần 1. 
Từ đầu truyện đến "cho qua ngày tháng": nguyên cớ và sự việc An Tiêm bị đày ra hoang đảo
Mở đầu truyện giới thiệu nhân vật Mai An Tiêm: con nuôi vua Hùng Vương thứ mười bảy, "có tài tháo vát, có trí hơn người", được nhà vua yêu mến và thường ban cho của ngon vật lạ.
Nếu Mai An Tiêm cứ bằng lòng với cuộc sống như vậy thì chí ít cũng sung sướng an nhàn cho đến mãn đời. Chẳng đã có bao nhiêu người hễ được chút lộc vua thì nâng niu ca tụng đó sao? Và nếu vậy thì cũng chẳng có truyện "Sự tích dưa hấu".
Nhưng An Tiêm vì có tài trí hơn người, đâu chịu theo thói thường bo bo giữ nếp xu mị. Vốn tính thẳng, chàng nói ra ý mình: "Của biếu là của lo, của cho là của nợ", có nghĩa là nhận của biếu, của cho của người khác, cho dù đó là lộc vua đi nữa, vẫn cứ mắc nợ nần ân huệ của người cho, và người được cho phải lo trả nghĩa ân huệ đó, có khi lệ thuộc suốt cả cuộc đời. An Tiêm không muốn sống bằng cách hưởng thụ sự ban ân. Như thế thì cuộc đời còn gì là tự do nữa, và bản thân con người liệu có còn là con người nữa không, hay suốt đời chỉ là kẻ tôi tớ hèn mọn? Phải chăng đó chính là những suy nghĩ của Mai An Tiêm khi thốt ra khỏi miệng một câu nói thẳng như ruột ngựa: "Của biếu là của lo, của cho là của nợ".
Tất nhiên câu nói ấy sẽ đến tai nhà vua. Và phản ứng của nhà vua thật là quyết liệt: "Vua giận lắm, bảo: "Đã thế ta cho nó cứ trông vào tài sức của nó, xem có chết rũ xương ra không". "Thế rồi một buổi sớm, tự nhiên An Tiêm thấy lính đến giải cả chàng lẫn vợ con xuống thuyền, chẳng cho mang theo một cái gì hết. Chàng nói mãi, chúng mới để cho đem một cái gươm cùn để hộ thân". Vậy là chỉ vì một câu nói thẳng, gia đình Mai An Tiêm gồm 4 người (vợ chồng, thằng con lớn và đứa con nhỏ) bị đày ra hoang đảo giữa biển cả mịt mù, xa cách hẳn với xã hội loài người.
Tai họa đến từ một câu nói thẳng, một kiểu vạ miệng, và cũng đến từ lòng tự ái của một nhà vua đầy độc đoán và quyền uy. Nếu biết trước cái giá phải trả của một câu nói thẳng "đắt" đến thế, thì có lẽ Mai An Tiêm đã không nói. Nhưng như thế thì đâu còn là chàng Mai An Tiêm "có tài tháo vát, có trí hơn người", có lòng tự trọng cũng hơn người! Bỗng nhiên cả gia đình Mai An Tiêm rơi vào một thảm cảnh khắc nghiệt: có thể "chết rũ xương" ở chốn hoang đảo không nơi trú thân, không lương thực, vật dụng, nước uống. Cho nên nàng Ba, vợ An Tiêm "Quay vào hòn đảo hoang vu, nàng lại càng khiếp sợ hãi hùng,...". Nỗi khiếp sợ của người đàn bà bế con nhỏ ấy là có thật
  
Phần 2. 
Từ "An Tiêm dắt vợ con..." đến "một cái nhà lá xinh xinh": cuộc vật lộn để tự kiếm sống trên hoang đảo
Nơi hoang đảo, An Tiêm có điều kiện thể hiện một cách cụ thể nhất tài trí của mình chẳng những vì cuộc sống của bản thân chàng, mà còn vì cuộc sống của vợ con chàng nữa. Hãy xem tài và trí của An Tiêm được thể hiện như thế nào?
An Tiêm bình tĩnh cắp gươm đi thăm dò, tìm rau dại, tìm quả dại. Vợ An Tiêm mò ngao, mò hến. Đứa con lớn làm bẫy đánh bắt chim. Như vậy cả gia đình An Tiêm sống bằng săn bắt, hái lượm, bằng những vật hoang dại có trên hòn đảo. "Cuộc sống của bốn người vô cùng lao đao, vất vả, chẳng khác giống chim muông bao nhiêu". "Tuy vậy An Tiêm vẫn tin là một ngày kia, mình có thể làm cho đời sống khá lên". Niềm tin ấy lóe lên bất ngờ giữa nơi hoang đảo, đúng là niềm tin của cổ tích, ca dao: "Chớ than phận khó ai ơi, Còn da lông mọc, còn chồi nảy măng". Như vậy trước Robinson Cruso, nhân vật trong truyện cùng tên của nhà văn Anh Daniel Defo (1660 - 1731) gần hai chục thế kỷ nhân vật Mai An Tiêm của nước Văn Lang dưới triều đại các vua Hùng đã vật lộn để trụ vững trên hoang đảo.
Rồi niềm tin về một cuộc sống sẽ khá hơn bắt đầu trở thành hiện thực khi Mai An Tiêm phát hiện ra "một mảnh quả dưa bằng hai ngón tay". "Chàng nghĩ thầm: chim ăn được có lẽ người cũng ăn được, bèn nếm thử thì thấy có vị ngọt". Chi tiết này nói lên Mai An Tiêm thật là thông minh, có trí hơn người ở cách suy luận có lý. Và cái tài của An Tiêm cũng lộ rõ ở việc An Tiêm "lấy gươm xới một khoảnh đất mà gieo hạt xuống". Nhờ vậy mà mấy hạt dưa nhặt được đã mọc mầm, đâm lá, bò tỏa rồi ra hoa, kết trái, thành một vườn dưa trồng lúc nào không biết, biến hòn đảo hoang vu thành một hòn đảo dưa trồng ngon quý. "Tất cả nông cụ chỉ gồm có một cái gươm cùn và mấy hòn đá mài bén..." nhưng nhờ sự lao đồng cần cù, sự bền bỉ kiên trì của Mai An Tiêm nên "giống dưa càng ngày càng sai, quả càng to, thịt dày thêm mãi, vỏ mỏng dần đi, vị càng thơm ngọt". Hóa ra "Bài ca vỡ đất" của nhà thơ Hoàng Trung Thông sáng tác khoảng năm 1950 với những câu: "Bàn tay ta làm nên tất cả, Có sức người sỏi đá cũng thành cơm", lại được Mai An Tiêm thể nghiệm từ những năm dưới thời các vua Hùng.
Mai An Tiêm trở thành người anh hùng của lao động sáng tạo và đồng thời là người anh hùng sáng tạo văn hóa miệt vườn nữa.
Ở phần này cái trí của An Tiêm lại một lần nữa được thể hiện khi "cứ mỗi lần hái dưa, An Tiêm lấy mấy quả đánh dấu thả ra biển. Dưa trôi biệt tăm tích không biết bao lần, trăng non rồi trăng già không biết bao bận, An Tiêm vẫn không ngã lòng". Tại sao An Tiêm lại cứ thả dưa trôi biển như thế? Vì An Tiêm muốn về lại với xã hội loài người, muốn tìm đến sự giao lưu, trao đổi. Tất cả những lao động sáng tạo vất vả, cực nhọc của An Tiêm và gia đình cũng chỉ vì một mục đích như thế: thoát khỏi cảnh đày ải, trở về với cuộc sống con người bình thường, cuộc sống của cộng đồng. Ở đảo hoang bốn bề xa vắng, nếu không đánh dấu thả dưa trôi biển, thì liệu đến kiếp nào An Tiêm mới gặp lại được xã hội loài người. Cách thực hiện sự giao tiếp của An Tiêm thật thông minh mà nhiều đời sau khi chưa có phương tiện phát sóng truyền tin, những người đi biển vẫn thường sử dụng bằng cách nhắn tin bỏ vào những chai thủy tinh nút kín, thả trôi trên biển. Và quả nhiên khi các thuyền buôn nhiều nơi đến với hoang đảo, gia đình Mai An Tiêm đã có được thức ăn dùng thường ngày và còn cất được "một cái nhà lá xinh xinh" nữa.
Phần 3. 
Đoạn còn lại: Mai An Tiêm được đón trở về đất liền
Mai An Tiêm đã phải vật lộn với thiên nhiên hoang dã để mong có ngày trở về với xã hội con người. Vì vậy mà mới có chuyện An Tiêm thả dưa xuống biển. Có thể nói An Tiêm đã tự mình tìm về được với xã hội con người khi những thuyền buôn đến đảo để trao đổi vật dụng với những trái dưa ngon quý. Nhưng tại sao nhà vua lại "ngẫm nghĩ thấy mình sai, cho thuyền ra đón gia đình An Tiêm"?. Vì nhà vua hiểu nhầm câu nói thẳng của An Tiêm. Nhà vua nghĩ rằng An Tiêm coi thường các thứ vua ban, nghĩ rằng An Tiêm là kẻ vô ơn, bạc nghĩa, có chết rũ xương cũng đáng. Kỳ thực câu nói của An Tiêm tựa như một câu tục ngữ, có ý nghĩa khái quát xác đáng: "của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của phù vân để ngoài ngõ". Cho đến khi An Tiêm tự lực cánh sinh chứng minh được chân lý đó thì nhà vua mới tỉnh ngộ, và sửa sai bằng cách cho thuyền ra để đón cả nhà An Tiêm về đất liền.
Cũng như nhiều truyền thuyết khác kể về thời dựng nước của các vua Hùng, truyện "Sự tích dưa hấu" giải thích thêm nguồn gốc một sản vật quý của đất nước cũng xuất hiện ở thời Hùng Vương. Câu chuyện còn minh họa cho tục ngữ của người Việt đúc kết kinh nghiệm sống. Câu chuyện có thể là một chứng tích mở đầu cuộc phiêu lưu trên biển đầu tiên của người Việt cổ, với những chi tiết phong phú, sống động. Có lẽ vì thế mà nhiều nhà văn Việt Nam hiện đại chọn lựa đề tài này để phóng tác thành tiểu thuyết nói về thời quá khứ xa xưa của dân tộc Việt.
Chu Huy
Nguồn: saga.vn


Học Thơ Đường Luật





       Học Thơ Đường Luật

Mười ba đã thích học thơ Đường
Hán Tự làm quen cũng ở trường
"Độc Toạ Kính Đình Sơn" Lý Bạch
"Tranh Hai Tố Nữ" Hồ Xuân Hương
Vừa Bằng lại Trắc sao kỳ quá
Đã Đối thêm Niêm thiệt khó đương
Kiên nhẫn mài mò giờ đã thấu
Trắc Bằng Niêm Đối cũng bình thường

                                              Quên Đi

Thân gởi Đức bài hoạ đọc cho vui

       Học Thơ Đường

Còn nhớ thời tôi ở học đường ,
Chữ nho chỉ dạy một vài trường .
Thơ Đường bình trắc lại niêm luật ,
Song Thất bổng trầm cũng sắc hương .
Hán tự , đám rừng đâu dễ học ,
La tinh , chữ viết chẳng nan đương .
Giờ đây tuổi hạc , thơ Đường thích ,
Cảm hứng đôi khi rất lạ thường .
                                               Mailoc

Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2013

Hùng Ca Sử Việt 1 : Phù Đổng Thiên Vương


                Sáu đời Hùng vận vừa suy
             Vũ Ninh có giặc mới đi cầu tài.
             Làng Phù Đổng có một người
      Sinh ra chẳng nói, chẳng cười trơ trơ.
              Những ngờ oan trái bao giờ,
    Nào hay Thần Tướng đợi chờ phong vân
             Nghe vua cầu tướng ra quân,
Thoắt ngồi, thoắt nói muôn phần khích ngang 
              Lời thưa mẹ , dạ cần vương 
  Lấy trung làm hiếu một đường phân minh.
               Sứ về tâu trước thiên đình
     Gươm vàng ngựa sắt đề binh tiến vào.
             Trận mây theo ngọn cờ đào,
        Ra uy sấm sét, nửa chiều giặc tan.
              Áo nhung cởi lại Linh San
              Miếu đình còn dấu cố viên.
 Chẳng hay chuyện cũ lưu truyền có không?
                      (Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca)

            
 

Kể từ khi thành lập nước Văn Lang, dưới sự cai quản của các vua Hùng, dân chúng an cư lạc nghiệp.Đến đời Hùng Vương thứ 6 cậy nước mình giàu mạnh, mà chểnh mảng việc triều cống Bắc phương. Vua nhà Ân mượn cớ tuần thú sang xâm lược. Hùng Vương nghe tin, triệu tập quần thần hỏi kế công. Có người phương sĩ tâu rằng:
- Sao không cầu Long Vương đưa quân âm lên giúp! Vua nghe lời, bèn lập đàn, bày vàng bạc lụa là lên trên, ăn chay, thắp hương, cầu đảo ba ngày. Trời nổi mưa to gió lớn, bỗng thấy một cụ già cao hơn chín thước, mặt vàng bụng lớn, mày râu bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường mà cười nói ca múa. Những người trông thấy biết là kẻ phi thường, mới vào tâu vua. Vua thân hành ra vái chào, rước vào trong đàn. Cụ già không ăn uống cũng không nói năng.
Vua nhân hỏi:
- "Nghe tin quân Bắc sang xâm lược, ta thua được thế nào, ngài có kiến văn xin bảo giúp".
Cụ già ngồi im một lúc, rút thẻ ra bồi, bảo vua rằng:
- "Ba năm nữa giặc Bắc sẽ sang, phải nghiêm chỉnh khí giới, tinh luyện sĩ binh mà giữ nước, lại phải đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ, kẻ nào phá được giặc thì phân phong tước ấp, truyền hưởng lâu dài. Nếu được người giỏi, có thể dẹp được giặc vậy".
Dứt lời, bay lên không mà đi, mới biết đó là Long Quân.
Quả nhiên, ba năm sau, người biên giới cấp báo có giặc Ân tới. Vua làm theo lời cụ già dặn, sai sứ đi khắp các nơi cầu hiền tài.
Lúc bấy giờ ở làng Gióng (làng Phù Đổng), huyện Tiên Du, Bắc Ninh có hai vợ chồng ông lão chăm làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân to quá, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu.
Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một thằng bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng lạ thay! Ðứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.
Người mẹ nghe tin sứ giả tới mới nói giỡn rằng:
- "Sinh được thằng con trai này chỉ biết ăn, không biết đánh giặc để lấy thưởng của triều đình, báo đáp công bú mớm".
Người con nghe thấy mẹ nói, đột nhiên bảo:
- "Mẹ gọi sứ giả tới đây".
Người mẹ rất lấy làm kinh ngạc, kể lại với hàng xóm. Hàng xóm cả mừng, tức tốc gọi sứ giả tới.
Sứ giả hỏi:
- "Mày là đứa trẻ mới biết nói, mời ta đến làm gì?".
- "Mau về tâu với vua rèn một ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bảy thước, một roi sắt và một nón sắt. Ta cưỡi ngựa đội nón ra đánh, giặc tất phải kinh bại, vua không phải lo gì nữa?".
Sứ giả mừng rỡ vội về tâu vua. Vua vừa kinh vừa mừng nói rằng:
- "Ta không lo nữa".
Quần thần tâu:
- "Một người thì làm sao mà đánh bại được giặc?".
Vua nổi giận nói:
- "Lời nói của Long Quân ngày trước không phải là ngoa, các quan chớ nghi ngờ gì nữa! Mau đi tìm năm mươi cân sắt luyện thành ngựa, kiếm, roi và nón sắt.
Giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt. Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, gươm sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến gặp.
Người mẹ sợ hãi bèn bảo người con rằng:
- Tai họa đã đến.
Con cả cười bảo rằng:
- "Mẹ hãy đưa nhiều cơm rượu cho tôi ăn, việc đánh giặc mẹ chớ có lo".
Người con lớn lên rất nhanh, ăn uống tốn rất nhiều, người mẹ cung đốn không đủ. Hàng xóm sửa soạn trâu rượu bánh quả rất nhiều mà người con ăn vẫn không no bụng.
Vải lụa gấm vóc rất nhiều mà mặc vẫn không
kín thân, phải đi lấy hoa lau buộc thêm vào cho kín người. Kíp đến lúc quân nhà Ân tới chân núi Trâu ở Vũ Ninh, người con duỗi chân vươn vai đứng dậy cao hơn mười thước (có chỗ nói là trượng) ngửa mũi hắt hơi liền hơn mười tiếng, rút kiếm thét lớn:
"Ta là thiên tướng đây!"
Rồi đội nón cưỡi ngựa. Ngựa chồm lên, hí dài một tiếng mà phi như bay, chớp mắt đã tới trước quân của nhà vua, vỗ kiếm đi trước, quan quân đều theo sau
Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng đánh giết hết lớp này đến lớp khác, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gẫy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ bỏ chạy, còn lại tên nào đều la bái kêu lạy thiên tướng rồi cùng đến hàng phục. Tướng Ân bị chết ở trong trận.
Đuổi đến đất Sóc Sơn huyện Kim Hoa, thiên tướng cởi áo cưỡi ngựa bay lên trời. Hôm đó là ngày mồng 9 tháng 4, còn để vết tích ở hòn đá trên núi.
Người ta kể rằng những bụi tre đằng ngà ở huyện Gia Bình vì ngựa phun lửa bị cháy mới ngả mầu vàng óng như thế, còn những vết chân ngựa nay thành những hồ ao liên tiếp. Người ta còn nói khi ngựa thét lửa, lửa đã thiêu cháy một làng, cho nên làng đó về sau gọi là làng Cháy

Hùng Vương nhớ công ơn đó mới tôn là Phù Đổng Thiên Vương, lập miếu thờ ở nhà cũ trong làng, lại ban cho một ngàn mẫu ruộng, sớm hôm hương lửa.

Nhà Ân đời đời, 644 năm không dám ra quân. Sau Lý Thái Tổ phong làm Xung Thiên Thần Vương, lập miếu ở làng Phù Đổng cạnh chùa Kiến Sơ, lại tạc tượng ở núi Vệ Linh, xuân thu hai mùa tế lễ.
Tới đời vua Thuần Đế nhà Lê, ở xã Phù Lỗ có người con gái tên là Ngô Chi Lan chăm đọc sách, rành văn chương, thơ ca điêu luyện, nhân đi dạo chơi tới núi này có đề bài thơ rằng:

Vệ Linh cây cỏ lẫn mây ngàn,
Vạn tía muôn hồng rỡ thế gian.
Ngựa sắt bay rồi tên vẫn đó,
Anh hùng sống mãi với giang san.

(Dịch Ý Thơ)



     Đền thờ Thánh Gióng

Huỳnh Hữu Đức Biên Soạn

Hùng Ca Sử Việt 1 gồm :

Hùng Ca Sử Việt 1 : Mai Hắc Đế (Biên Khảo)
Hùng Ca Sử Việt 1 : Nhuỵ Kiều Tướng Quân
Hùng Ca Sử Việt 1:Tiếng Hờn Sông Hát
Hùng Ca Sử Việt 1 : Phù Đổng Thiên Vương
Hùng Ca Sử Việt 1:Đồng Bào
Hùng Ca Sử Việt 1 : Lời Mở Đầu 




Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

Thơ Tranh : Đợi Chờ Ai


Thơ Quên Đi
Tranh Kim Oanh




Hiu hắt Thu Phong


Bài Xướng: Hiu hắt Thu Phong



Không gian trở lạnh báo mùa sang
Hiu hắt Thu phong, rụng lá vàng.
Mây xám đầu non luôn chất ngất
Sương mờ góc suối cứ giăng giăng .
Lão ông ngắm cảnh, tình lai láng
Thiếu nữ nhìn trời, mộng chứa chan .
Lai láng hồn ta nguồn cảm hứng
Đây mùa mơ ước của thi nhân!
                             Quang Tuấn

Bài Họa: Lữ Quán Đêm Thu

Lưng trời mây xám báo thu sang
Lữ khách bâng khuâng với sắc vàng .
Đồi núi vi vu chiều lá đổ
Lều tranh hiu hắt khói sương giăng .
Trẻ thơ khóc sửa, đêm ai oán
Thiếu phụ trông chồng lệ chứa chan .
Tí tách bên ngoài mưa chẳng dứt
Bên đèn thao thức não chinh nhân .
                                       Mailoc
     
Bài Họa: Chiếc Lá Thu

Lá chợt bàng hoàng tiết đã sang
Thân đưa trong gió nắng hanh vàng
Hương thu man mác buông hờn tiếc
Mưa lạnh từng hồi luyến nhớ giăng
Một thuở xanh tươi đầy mộng thắm
Úa vàng đến lúc ngập sầu chan
Bình minh chưa rạng hoàng hôn đã
Kiếp lá đâu nào khác thế nhân.

                                     Quên Đi


Tiếng "Má" Thiêng Liêng

Nào đâu phải
mỗi năm chỉ một lần nhớ má
Mưa nắng hai mùa
dù tất tả vẫn nhớ lắm má ơi
Má của con
ôi tình má mãi rạng ngời
Trong tâm khảm
trong con dẫu người khuất bóng
               Bao khổ đau má âm thầm nhận lấy
               Nuốt vào trong tất cả những đắng cay
               Nhìn đàn con được vui giỡn mỗi ngày
               Như tan hết những muộn phiền nơi má
Ai từng đã nhiều lần làm má giận
Càng đậm sâu bóng dáng của huyên đường
Ánh mắt nhìn đầy trìu mến yêu thương
Luôn tha thứ cảm thông : "con sao dại?".
               Bao năm trường nhung nhớ chẳng đổi thay
               Vắng tiếng "Má" vắng ngọt ngào đằm thắm
               Để những đêm thao thức vẫn gọi thầm
               Một tiếng "Má" con nghe lòng ấm lại. 
                                                                             Quên Đi

Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

Thu Tứ - Bạch Cư Dị


       秋 思                Thu Tứ

          白 居 易                 Bạch Cư Dị

夕 照 紅 于 燒      Tịch chiếu hồng vu thiếu
晴 空 碧 勝 藍      Tình không bích thắng lam
獸 形 雲 不 一      Thú hình vân bất nhất
弓 勢 月 初 三      Cung thế nguyệt sơ tam
雁 思 來 天 北      Nhạn tứ lai thiên bắc
砧 愁 滿 水 南      Châm sầu mãn thủy nam
蕭 條 秋 氣 味      Tiêu điều thu khí vị
未 老 已 深 諳      Vị lão dĩ thâm am 

Dịch Nghĩa : Cảm Thu

Nắng chiều chiếu ánh đỏ như thiêu đốt
Bầu trời tạnh ráo sắc xanh nhiều hơn sắc lam
Mây đổi thay hình dạng các con thú
Trăng mùng ba có hình cánh cung
Nhạn nghĩ về phương trời bắc
Tiếng chày làm buồn bã vùng nước phía nam
Mùi vị mùa thu thực là buồn bã
Chưa già nhưng đã hiểu biết nhiều 

 

Bản dịch :

                   Ý Thu
Nắng chiều hồng mặt trời đỏ thắm
Xanh biếc trời vương vấn chút lam .
Trong mây hình thú hợp tan
Mồng ba , liềm mỏng trăng đang tượng hình .
Ngóng về bắc viễn chinh cánh nhạn
Tiếng chày buồn lãng đãng sông Nam .
Hơi thu sầu thảm không gian
Chưa già mà đã mênh mang hiểu đời .
                                     Mailoc phỏng dịch
                                           Cali 9-22-13 

          Ý Thu (xin phỏng dịch)

Nắng chiều thiêu đốt bóng ngày tan
Trời ửng màu xanh ẩn chút lam
Mây đổi dạng hình muôn vạn thú
Trời thay lưỡi hái mồng ba trăng.
Nhạn tung cánh mỏi về phương Bắc
Chày vọng sông buồn vẳng phía Nam
Cảnh vật mùa thu hiu quạnh quá
Chưa già mà hiểu biết mênh mang.
                              Quang Tuấn 22/9/13 

Cảm Nhận Mùa Thu

Nắng chiều như lửa đỏ
Xanh biếc khoảng trời trong
Mây biến hình muôn thú
Mùng Ba dáng nguyệt cong
Nhạn mơ về mạn bắc
Chày nhịp buồn nam sông
Xơ Xác tình thu úa
Trẻ nhưng trí chẳng nông
                            Quên Đi

                 Hơi Thu

Đỏ rực ráng ngời như lửa thiêu
Bầu trời xanh loãng sắc lam chiều
Mây mang dạng thú muôn hình vẻ
Trăng uốn liềm cong một bóng xiêu
Chầy nhịp sông Nam âm khắc khoải
Nhạn về phương Bắc dáng cô liêu
Hơi thu ảm đạm sầu giăng ngập
Chưa lão niềm riêng đã chất nhiều.
                                       Lộc Mai

                 Ý Thu

Nắng vàng rực đỏ lúc chiều buông !
Xanh biếc da trời điểm sắc trong
Mây đổi hình thù muôn vạn thú
Trăng mùng ba ló dạng cung cong
Nhạn bay về bắc dang đôi cánh
Chày nhịp phương nam vọng bên sông
Cảnh vật hơi thu sầu quạnh quẻ
Đâu già sự việc hiểu càng thông !
                               Song Quang