Thứ Tư, 8 tháng 1, 2020

Lạnh Lùng (Tứ Tuyệt 4 Kỳ)

1-
Bấc hỡi sao ngươi quá hững hờ
Nỡ đem cái lạnh ngấm vào thơ
Bút buồn trang giấy càng cô độc
Cảm xúc còn đâu để dệt mơ 
2-
Có phải tình yêu đến đấy không
Sao nghe lưu luyến ở nơi lòng
Đêm khuya vắng lặng còn thao thức
Mơ đến phương nao thỏa giấc nồng.
3-
Cái lạnh sao gieo tận đáy lòng
Chừng như hơn cả buổi sang đông
Vắng nhau một buổi đà nhung nhớ
Hà huống bao ngày cảnh vắng không
 4-
Lất phất mưa phùn lạnh ý thơ
Khiến hồn tê tái nỗi mong chờ
Bao lời khó hết tình đơn lẻ
Chỉ biết đi tìm trong giấc mơ

                              Quên Đi
***

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2020

Vụ án “Hải tặc”



Ở đường Chi Lăng còn có Chiêu Ưng Từ, nằm đối diện chợ Cồn Phú Cát hiện nay. Ngôi đền do Hoa thương phố Gia Hội xưa quyên góp sửa ngôi chùa cổ đã sụp đổ vào năm 1887. Năm 1908, ngôi đền được trùng tu và có tầm vóc như ngày nay. Đây là ngôi đền ghi dấu một vụ án vào đời Tự Đức.

Vụ án diễn ra vào mùa hè năm Tân Hợi (1851), khi vua Tự Đức đọc được tờ tấu do Bộ binh chuyển lên báo Chưởng vệ Phạm Xích, Lang Trung Tôn Thất Thiều tâu trình đã đánh đuổi ba tàu hải tặc ở vùng biển Quảng Nam - Quảng Ngãi, rằng quan binh đã bắn chìm một chiếc, một chiếc bị quan binh áp sát, giết được rất nhiều hải tặc, thu tàu giải về neo tại vụng Chiêm Dữ, một chiếc bỏ chạy về phía đông, xin báo công để triều đình ban thưởng.

Vua Tự Đức xem xong tờ tâu liền sinh nghi vì đánh nhau với hải tặc mà lính tráng chẳng ai bị thương tích gì, còn phía bên kia thì chết sạch không một người bị bắt làm tù binh. Vụ việc nghiêm trọng nên vua Tự Đức nhấc bút châu phê vào tờ tấu: “Giao qua Bộ Binh điều tra cho rõ sự tình”.

Liền sau đó Quan thượng thư Bộ binh phái thuộc cấp đi khám xét. Vài ngày sau, thuộc cấp đi về phúc trình rằng chiếc tàu giặc biển giống thuyền buôn hơn là tàu giặc. Ngay lúc ấy, một phụ nữ Hoa kiều đến nha môn xin cáo giác. Nguyên bà là Hoa kiều, làm nghề tiệm ăn ở phố Gia Hội, thấy chồng cũng là Hoa kiều về nước bặt tin đã lâu.

Nhưng khi viên đội trưởng trong vệ Tuyển Phong tên Trần Hựu đem bạn bè về chiêu đãi tại quán bà nhưng không đủ tiền trả nên rút chiéc nhẫn cầm tạm bảo thối tiền mặt. Bà chủ thấy nhẫn ngờ ngợ, xem kỹ nhận ra bảo vật của chồng liền vặn hỏi. Trần Hựu lúc đầu tìm cách chối, sau chịu theo bà đến nha môn trình việc. Hoá ra y là thủ hạ của Tôn Thiết Thiếu.

Trước mặt quan Bộ binh, Trần Hựu cung khai rằng ngày 17.6.1851, thuyền quan đậu ở cửa Thi Nại, được tin có ba chiếc thuyền lạ đậu ngoài hải phận đảo Thanh Dư. Chưởng vệ Phạm Xích và Thi lang Tôn Thất Thiều lập tức đuổi theo bắn và áp sát để bắt. Mặc dù đã trình thẻ nhà buôn nhưng 108 người Hoa trên tàu bắt được đều bị chém chết rồi đem quăng xuống biển mất xác.

Ngoài ra sau đó còn tìm thấy một người khác trốn dưới đáy khoang. Bị phát giác, người này chạy thoát lên boong, phóng xuống biển mất tích. Toàn bộ hàng hóa trên chiếc tàu buôn của người Hoa được chuyển sang chiếc Bằng Đoàn của quan binh rồi chiếc thuyền buôn được sơn lại toàn màu đen để trông như tàu hải tặc và dẫn về vụng Chiêm Dữ.

Vụ án “hải tặc” còn thể hiện được sự sáng suốt của vua Tự Đức trong bang giao với Trung Quốc, nhất là trong chính sách bảo vệ ngoại kiều đến làm ăn, buôn bán với nước ta, góp phần mở mang thông thương, bang giao hữu nghị với các nước.

Trước công đường, bà chủ quán ở phố Gia Hội kêu oan rằng chồng bà cùng nhiều bạn khác thuộc các bang ở Huế và Quảng Nam, Quảng Ngãi nhân về nước thăm quê nhà ở Hải Nam đã kết hợp đi buôn, có giấy phép của trên cấp. Vậy mà nay lại bị chết oan mà còn mang tiếng là hải tặc. Quan Thượng thư Bộ binh sau khi gọi thêm nhân chứng điều tra, làm tờ tâu, nói bọn Xích giết càn và mạo xưng công lại.

Vua Tự Đức thịnh nộ, phê giao Ty tam pháp xét xử. Thiều chủ mưu, bị đổi theo họ mẹ (Đặng), cùng Xích đều bị xử tội lăng trì, vợ con phải phát phối; Dương Cù đồng loã, xử tội trảm quyết; Trần Hựu biết thú nhận khi chưa tra khảo nên được tha. Bản án dâng lên, vua Tự Đức châu phê chuẩn ngay, còn xuống chỉ truy thu tang vật trả lại thân nhân những người bị hại.

Do đó, hằng năm vào độ rằm tháng sáu âm lịch, kể khi Chiêu Ứng từ xây xong, thân nhân các nạn nhân Hoa kiều sống tại Việt Nam hay từ Hải Nam, cũng như người Hoa kiều từ các nơi qui tụ về đây để làm lễ tưởng niệm, thường thường lễ kéo dài đến ba ngày. Truyền thống đó vẫn còn lưu giữ đến ngày nay.

Có thể nói rằng, bản án của vua Tự Đức phê chuẩn không những đã minh oan cho nạn nhân của vụ án “Hải tặc” mà còn cho thấy pháp luật Việt Nam nghiêm minh, không phân biệt một ai. Bản án còn thể hiện được sự sáng suốt của vua Tự Đức trong bang giao với Trung Quốc, nhất là trong chính sách bảo vệ ngoại kiều đến làm ăn, buôn bán với nước ta, làm cho nước ta không bị Trung Quốc có cớ gây khó dễ về mặt chính trị.

Theo Báo Dân Việt

Thứ Tư, 1 tháng 1, 2020

Chuyện Làm Thơ


Mần thơ cũng thú lắm thay
Như đang kéo lại tháng ngày đã qua
Cái thời ong bướm vờn hoa
Cái thời mơ mộng chuyện ta với người
Cái thời chưa đến đôi mươi
Cái thời hai đứa vui cười bên nhau
Cái thời chưa nghĩ trước sau
Cái thời cứ mãi khát khao chuyện lòng.

Mần thơ đâu phải chuyện đùa
Đủ mùi đủ vị cay chua ngọt bùi
Nhiều khi thao thức tới lui
Những đêm cúp điện tối thui cũng mần
Đứng ngồi suy nghĩ phân vân
Nặn tim vắt óc bao lần chẳng xong
Phải chăng chữ đã đi rong
Khiến mình viết mãi khó hòng nên câu

Mần thơ đâu phải chuyện chơi
Nhiều khi dạ cũng rối bời như tơ
Lây quây ngẩn ngẩn ngơ ngơ
Ý tuy đã sẵn chỉ chờ vần gieo
Tiếc rằng từ vựng lèo tèo
Tứ thì một ngả nghĩa theo một đường
Làm thơ chớ khá khinh thường
Dù hay dù dở nhúng nhường đổi trao

Mần thơ cái thú an nhàn
Tâm hồn thoải mái ngập tràn tình thân
Làm thơ kết bạn xa gần
Đông tây nam bắc mượn vần kết giao
Làm thơ là thú thanh tao
Mỗi khi thi hứng nôn nao cả lòng
Hương lành gió mát trăng trong
Này này mặc khách sao không bút đề.
                                         Quên Đi
***

Thứ Hai, 30 tháng 12, 2019

Đành Thôi


Nào phải hạ sao mưa rơi tầm tả
Tiếng vọng buồn từng giọt lặng lẽ buông
Người thương ơi lòng ta rối bời bời
Tình đã đến
Nhưng thuyền anh làm sao ghé bến
Nào phải đông mà sương trắng mênh mông
Lòng thấm lạnh trong tâm hồn cô quạnh
Yêu nhau rồi lại phải cảnh chia phôi
Và có lẽ
Cuộc tình mình theo hai lối rẽ
Gặp mà chi cho đau xót buổi phân ly
Yêu chưa cạn nhưng thời gian đã cạn
Đành đổi trao từng giây phút nghẹn ngào
Em có biết
Trong anh một nỗi buồn da diết.
                                            Quên Đi

***

Thứ Sáu, 27 tháng 12, 2019

Nơi Giáo Đường


Nhìn em bên tượng Chúa 
Thành tâm lời khấn nguyện 
Anh muốn làm con chiên 
Để cùng nhau sánh bước 
Tâm hồn em thánh thiện 
Anh giống kẻ tội đồ 
Đem theo điều tục lụy 
Làm động chốn linh thiêng 
Chúa nhân từ cứu rỗi 
Xua tan nỗi ưu phiền 
Nhưng lòng con mê muội 
Không thể xóa niềm riêng. 
                       Quên Đi
***

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2019

Bấc Đến


Nghe em lạnh, anh càng thêm nhức nhói
Chẳng gần nhau trao hơi ấm đầu đông
Anh giờ như muối xát trong lòng
Như cảm nhận em chờ vòng tay ấm

Nghe em lạnh anh càng thêm bối rối
Bấc đang về mình mỗi đứa một nơi
Muốn trao em hơi ấm cả cuộc đời
Nhưng không thể vì số trời chưa định

Nghe em lạnh khiến lòng anh thêm giao động
Chuông Noel  vang vọng giữa đêm trường
Nhưng giờ này hai đứa ở hai phương
Sao kề sánh giữa giáo đường khấn nguyện.      
                                                Quên Đi 
***

Thứ Hai, 23 tháng 12, 2019

Đông về

Chuông giáo đường vang vọng
Cô đơn vẫn ngập lòng
Cái lạnh càng thêm lạnh
Khi trời chuyển sang đông

Chúa nhân từ cứu rỗi
Một tâm hồn đơn côi
Thoát qua vòng phiền lụy
Cho tim hết bồi hồi

Giữa giáo đường yên tĩnh
Tìm đến sự an bình
Lòng thành kính dâng lên
Chỉ mong đời thanh tịnh

Noel đến cận kề
Gió bấc còn lê thê
Mân Côi lần tràng hạt
Lòng con hết u mê.
                                Quên Đi

***