Thứ Năm, 6 tháng 4, 2017

Đất Phương Nam I - Phần 3 Cộng Đồng Những Cư Dân Bản Địa Trên Đất Nam Kỳ Xưa

Cộng Đồng Người Cơ Ho Ở Miền Đông Nam Kỳ:




Khi những lưu dân Việt Nam lần đầu tiên đặt chân đến vùng Mô Xoài của miền Đông Nam Phần, có lẽ họ đã chạm trán ngay với một tộc người bản địa đông nhất trong khu vực, đó là tộc người Cơ Ho. Không biết hồi đó dân số người Cơ Ho là bao nhiêu, nhưng theo thống kê của bộ Thông Tin VNCH năm 1958 hiện còn khoảng trên 90.000 người Cơ Ho tại các vùng Khánh Hòa, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, và các vùng Đất Đỏ và Xuyên Mộc, giáp ranh với Bình Thuận. Người Cơ Ho là giống người thuộc ngữ hệ Môn-Khmer. Sau những cuộc chạm trán với văn hóa Việt, tộc người Cơ Ho(33) đã rút lần lên Tây Nguyên và các vùng ven biển từ Bình Thuận trở ra đến Khánh Hòa. Cũng như người Stiêng, đàn ông người Cơ Ho thường đóng ‘khố’ và đàn bà có khi cũng đóng khố, có khi thì họ lại vận sà rông như kiểu người Khmer, nhưng phần trên để trần, nhưng đến mùa lạnh họ thường quấn mền trùm khắp cả thân người. Đối với người Cơ Ho, việc khai khẩn đất mới là cần thiết trong việc trồng lúa, vì họ cho rằng lúa chỉ tốt có hai mùa sau khi khai khẩn, đến mùa thứ ba thì đất ấy đã bị xem như cằn cỗi, nên họ bỏ đi tìm đất khác, đến mười năm sau mới trở lại khai thác vùng đất mà họ đã bỏ hoang nầy. Bên cạnh việc trồng lúa, người Cơ Ho còn trồng các thứ hoa màu phụ như bắp, đậu, dưa, bầu, bí, bông vải và thuốc lá. Cũng giống như các vườn nhà người Việt ở Nam Kỳ, chung quanh vườn nhà của người Cơ Ho, họ trồng đủ thứ các loại cây ăn trái như đu đủ, xoài, mít, khóm, và chuối, vân vân. Không như các bộ tộc Stiêng, Mạ và Châu Ro, trình độ làm gốm sứ của người Cơ Ho đã đạt đến kỹ thuật cao hơn nhiều. Họ biết cách trộn đất, nắn, phơi và nung gốm gần giống như kỹ thuật của người Việt Nam. Mãi đến ngày nay, người Cơ Ho vẫn còn theo chế độ mẫu hệ. Khi người con gái đến tuổi lập gia đình tìm được một chàng trai mà mình muốn cưới, cô gái sẽ cho cha mẹ mình biết, sau đó cha mẹ mới tìm sự ưng thuận của người anh trai của mẹ. Người cậu nầy có toàn quyền trong việc quyết định có nên tiến hành hôn lễ hay không. Về vấn đề tang lễ, cũng như người Việt, thường thì người Cơ Ho quàn người chết tại nhà vài bữa, sau đó mới di chuyển lên rừng để chôn cất, thường thì người Cơ Ho chôn cất người thân trong cùng một khu nhà mồ. Có điều lạ là trong sáu năm sau khi chôn người chết, người Cơ Ho không bao giờ thăm viếng mồ mả của người ấy. Về mặt tín ngưỡng, người Cơ Ho tin tưởng vào ‘Ông Trời’ và họ cũng tin tưởng nơi các vị thần sông, thần núi, thần, thần rừng, thần đất, vân vân, mà họ gọi là ‘Dàng’. Dưới thời Pháp thuộc, nhiều người Cơ Ho đã bỏ hẳn tín ngưỡng bản địa để theo đạo Cơ Đốc. Chính vì vậy mà vào đầu thế kỷ thứ XX, người Pháp đã La Tinh hóa chữ viết của tiếng Cơ Ho và in ấn thật nhiều Thánh kinh nhằm Cơ Đốc hóa toàn bộ người Cơ Ho giữa các vùng Lâm Đồng và Ninh Thuận. 



Cư Dân Phù Nam Cổ:
 Ngay từ đầu thế kỷ thứ nhất vương quốc khi vương quốc Phù Nam thành hình, một số cư dân bản địa không chịu khuất phục nên đã rút sâu vào các vùng rừng núi Tây Nguyên, số còn lại tiếp tục sinh sống tại các vùng thuộc miền đông Nam Phần ngày nay và hòa nhập với cư dân Phù Nam. Ngày nay sử liệu về vương quốc và cư dân Phù Nam hãy còn rất mù mờ, nhưng có lẽ họ cũng thuộc giống người Nam Á, có ngữ hệ Môn-Khmer cũng gần giống như các bộ tộc bản địa ở miền đông Nam Phần hay người Khmer vậy. Theo các thư tịch cổ của Trung Hoa thì các sứ thần Trung Hoa đã tỏ ra khinh khi người Phù Nam khi họ cho rằng dân Phù Nam là một dân tộc man di, da đen, xấu xí, tóc quăn, đa số đều ở truồng và đi chân không. Sau khi sứ thần Trung Quốc than phiền với vua Phù Nam thì nhà vua liền ra lệnh cho tất cả thần dân phải quấn vải vào thân mỗi khi có sứ thần nước khác đến. Các nhà cổ sử cho rằng có lẽ đây là tiền thân của chiếc xà rông mà các dân tộc Thái Lan, Mã Lai, Cao Miên và Lào thường mặc ngày nay. Tuy nhiên, những điều nầy ngược lại với những báo cáo của các thương nhân ngoại quốc. Họ ghi lại rằng giới quí tộc Phù Nam ăn mặc màu mè sặc sỡ với vô số đồ trang sức làm bằng ngọc ngà châu báu. Chính Khương Thái đã ghi lại như sau: “Vị vua đầu tiên của Phù Nam, có lẽ là một người thuộc dòng dõi quý tộc ở Ấn Độ hay là một Tăng lữ Bà La Môn, tên là Hỗn Điền (Kaundinya). Cũng theo Khương Thái thì vương quốc Phù Nam có nhiều đô thị, có tường cao bao quanh và bên trong có nhà ở. Người Phù Nam có nước da màu đen, tóc quăn, xấu xí và sống khỏa thân. Nếp sống của họ rất đơn giản nhưng trong xã hội của họ không có trộm cắp. Đa số làm nghề nông theo lối cổ xưa. Họ rất khéo chạm trổ trên đá và trên gỗ. Trong cung đình, đa số chén dĩa đều làm bằng vàng, bạc, trân châu. Trong khi đó đồ dùng của thường dân thì đa phần được làm bằng đất nung. Tại kinh đô, có văn khố và thư viện lớn với rất nhiều sách vở bằng chữ Phạn. Họ dùng chữ viết gần giống như loại chữ viết của các dân tộc ở vùng Trung Á, có nguồn gốc từ chữ Phạn của Ấn Độ. Ngay từ những năm đầu Tây lịch, người Phù Nam đã biết dùng chữ viết trong công việc hành chánh và thương mãi rồi. Họ chiêm ngưỡng và sùng bái các tượng Thần làm bằng đồng, chạm hình người 2 mặt 4 tay, hoặc 4 mặt 8 tay. Về nghi thức ma chay, gia đình nào có người chết thì những người đàn ông trong gia đình đều cạo hết râu tóc. Thường thì họ thủy táng người chết, hoặc hỏa táng. Một số cư dân khác tại các vùng ngập nước thì theo phương cách ‘điểu táng’. Ông Khương Thái đã ghi nhận là cư dân trong vùng không sử dụng nước giếng, mà họ thường đào những cái ao lớn cho cả xóm xài chung. Tục lệ đào những cái ao lớn cho cả sóc ngày nay vẫn còn tại một số địa phương như Trà Vinh, Sóc Trăng hay Tri Tôn (Châu Đốc). Theo truyền thuyết thì chính Khương Thái là người đã thuyết phục nhà vua Phạm Tần (Fan-Tsan) ra sắc luật bắt buộc mọi người phải mặc quần áo. Từ đó dân chúng lấy tấm vải quấn tròn quanh người, giống như họ quấn xà rông (sarong) ngày nay. Theo thư tịch cổ đời nhà Lương, người Phù Nam rất thích dùng voi trong mọi công tác vận chuyển, có lẽ thời bấy giờ vùng nầy rất nhiều voi, nên chẳng những nhà vua và triều thần dùng voi, mà hầu như cung nữ và những thương gia tại kinh đô đều sử dụng voi làm phương tiện đi lại. Đa số cư dân Phù Nam theo đạo Bà La Môn. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều di vật khai quật được cho thấy ảnh hưởng của Phật giáo trên vương quốc nầy không phải là nhỏ. Tưởng cũng nên nhắc lại, thời kỳ vương quốc Phù Nam đang cường thịnh, tức là vào khoảng thế kỷ thứ III sau Tây lịch, thì Phật giáo tại phương Đông chưa phát triển mạnh. Phật giáo chỉ phát triển mạnh tại đây vào cuối thế kỷ thứ sáu, nghĩa là lúc vương quốc Phù Nam suy tàn. Chính vì vậy mà bản sắc văn hóa Phù Nam đượm nét Bà La Môn hơn là Phật giáo. Ngày nay không có sử liệu nào nói về sự tồn tại của các bộ tộc người Phù Nam mà người Khmer đã thừa nhận rằng họ chính là hậu duệ của người Phù Nam; tuy nhiên, sự thừa nhận nầy có phần mâu thuẫn với những sử liệu nói về phiên quốc Kambuja tiêu diệt vương quốc Phù Nam để giành lấy quyền thống trị tại vương quốc nầy(34). Như vậy theo thiển ý, có lẽ sau khi vương quốc Phù Nam bị phiên quốc Kambuja tiêu diệt, cư dân của họ đã sơ tán đi khắp nơi, một số dong buồm đi đến các đảo ở phía Nam, một số khác bỏ vùng đất Nam Bộ để chạy lánh nạn trên vùng Tây Nguyên, số còn lại tiếp tục ở lại và sống hòa nhập với người Kambuja để trở thành người Khmer ngày nay. 



Chú Thích: 
 (1) Thuở ấy đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn là vùng đất đang được bồi đắp và hãy còn chìm ngập trong biển nước cạn mênh mông. (2) Thường thì lớp tường bên ngoài có độ cao trung bình từ 1,5 đến 2 mét, và cao hơn lòng hào khoảng 3 đến 4 mét, chiều rộng từ 20 đến 30 mét, hào không sâu lắm nhưng có bề rộng. Mỗi công trình thường có hai cổng, một quay về hướng Bắc và một quay về hướng Nam, mỗi cổng rộng khoảng từ 30 đến 50 mét. (3) Theo các tài liệu khảo cổ thì Óc Eo chẳng những là một hải cảng quan trọng, mà còn là khu cư dân lớn và quan trọng nhất của vương quốc Phù Nam nữa. Quanh khu Óc Eo có những cánh đồng, nhất là khu vực từ chân núi Ba Thê đến bờ sông Hậu Giang, và dân chúng ở đây đã biết cách đào kinh dẫn thủy nhập điền, qua không ảnh chụp được người ta tìm thấy cả một hệ thống kinh đào thẳng tắp theo hướng Đông Bắc-Tây Nam chạy từ Óc Eo đến tận vùng Banam, nghĩa là đem nước trũng phèn từ những cánh đồng ngập mặn chảy thẳng ra vịnh Thái Lan. Có lẽ ngày đó dân Phù Nam chỉ làm lúa sạ, nghĩa là chỉ dọn đất rồi sạ lúa, cây lúa lớn lên theo con nước lũ, rồi đến mùa nước rút là họ gặt hái. Có người cho rằng việc cư dân cổ của vương quốc Phù Nam biết làm ruộng lúa sạ tại vùng nầy hồi thế kỷ thứ nhất là vô lý, nhưng họ quên rằng các dân tộc tại vùng Đông Á, từ Trung Hoa, xuống Việt Nam, Chăm Pa, kể cả Phù Nam, vân vân, đã biết làm ruộng lúa nước từ lâu lắm rồi. Dầu thế nào đi nữa thì những thư tịch cổ của Trung Hoa cũng cho chúng ta một khái niệm sơ lược về cộng đồng cư dân cổ của vương quốc Phù Nam. Từ ngày thành lập đến khi tàn lụn vương quốc nầy đã truyền được 13 đời vua. Qua đến những thế kỷ thứ II và thứ III thì vương quốc Phù Nam đã phát triển mạnh mẽ và hoàn chỉnh một triều đại lớn, đó là triều đại Sri Mara (Sư Man), trị vì vương quốc nầy trong khoảng từ năm 225 đến 230 sau Tây lịch. Đây cũng là thời kỳ hưng thịnh nhất của dân tộc Phù Nam, vị vua nầy đã chinh phục các lân quốc và mở rộng lãnh thổ của Phù Nam. Chỉ trong vòng 5 năm (225-230) mà vua Sri Mara đã cho đóng nhiều chiến thuyền để vượt biển đánh chiếm các nước nhỏ ngoài hải đảo. Đến năm 230 sau Tây lịch thì biên cương của vương quốc Phù Nam đã trải rộng từ đồng bằng sông Cửu Long đến tận Ménam về phía Tây, và về phía Nam và Đông Nam xuống tận đến các hải đảo thuộc Nam Dương và Mã Lai ngày nay, về phía tây bắc lên đến Trung Lào, về phía đông bắc kiểm soát các trục lộ giao thông đến tận vùng Khánh Hòa. Nghĩa là 300 năm sau ngày lập quốc vương quốc nầy đã hoàn chỉnh hệ thống hành chánh và thương mãi, đã có một hạm đội chiến thuyền và quân lực hùng mạnh. Thời nầy vương quốc nầy đã chinh phục được hầu hết các nước quanh vùng, từ Mã Lai, Thái Lan, Cao Miên, Nam Lào và Nam Miến Điện. Từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ VI, coi như vương quốc Phù Nam đã kiểm soát hoàn toàn đường hàng hải của các thương thuyền đi từ Trung Hoa qua Ấn Đô và Âu châu. (4) Mãi đến nay người ta vẫn chưa biết được hình dạng của những cư dân cổ thời đó, tuy nhiên, căn cứ theo những chiếc sọ khai quật được ở Cà Mau vào năm 1958, họ là những người Indonesien, mà theo các nhà nhân chủng học thì họ thuộc loại hình nhân chủng Mông Cổ phương Nam, có sọ với độ lớn trung bình, mặt rộng, trán trợt, xương chân mày rộng, gò má cao, hốc mắt sâu. Người ta đã tìm thấy những khuôn đúc đồng ở miền Đông Nam Kỳ cũng như những dụng cụ bằng đồng loại lớn dùng để đốn cây, săn bắn và làm vũ khí chống lại với hoang thú, cũng như những vật dụng săn bắn và hái lượm khác có niên đại khoảng hai hoặc ba ngàn năm trước tây lịch, nghĩa là khi nghề đúc đồng đã xuất hiện tại đây vào thời điểm đó. (5) Theo Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, và Nguyễn Văn Diệu trong “Văn Hóa Các Dân Tộc Thiểu Số Ở Việt Nam”, NXB Giáo Dục 1997, tr. 77, người Stiêng còn được gọi là Mọi Stiêng, Tà-Mun, hay Xa Điêng. Hiện còn khoảng 50.000 người sinh sống tại các vùng Bình Long, Phước Long, Bình Dương, Tây Ninh, Lâm Đồng và Đắc Lắc. 
(6) Chà gạt là một loại công cụ rất tiện lợi trong việc chặt những cây nhỏ như tre, nứa hay lồ ồ. Người Stiêng còn dùng chà gạt để chống lại thú dữ và đánh nhau giữa các bộ lạc. Ngoài ra, người Stiêng còn dùng chà gạt để đào củ hay đào những gốc cây nhỏ. Người Stiêng xem cây chà gạt như là biểu tượng uy dũng của những chàng trai. (7) Người Stiêng dùng dao nhọn để vót chông, tên, làm cạm bẫy, mổ xẻ thịt rừng, gọt củ hay rạch vỏ cây lấy nhựa hoặc vỏ. (8) Rìu là một loại búa được người Stiêng dùng để đốn cây lớn để làm nhà. (9) Cuốc được dùng để xới đất và làm cỏ rẫy. (10) Tên gọi người Stiêng ở vùng trũng thấp. (11) Thường thì người Stiêng khai phá đất mới và chỉ làm ruộng rẫy trong vòng vài năm. Chính vì vậy mà mới có tên đất luân canh. Đất luân canh là đất dự trữ sau khi những đất rẫy đang canh tác bị khô cằn thì buôn làng người Stiêng sẽ di chuyển đến vùng đất mới, để cho những đám rẫy cũ được nghỉ ngơi trong một khoảng thời gian nào đó rồi mới quay trở lại canh tác. Thường thì mùa đầu tiên họ trồng lúa, đến mùa thứ nhì thì họ cũng trồng lúa, nhưng lại trồng thêm mè, bắp, dưa, bí, bầu, và các thứ đậu. Người Stiêng thường bỏ luôn những đám ruộng rẫy đã được họ canh tác trên mười năm. (12) Đất cấm là những cánh rừng đầu nguồn và những cánh rừng thiêng để làm nghĩa địa cho bộ tộc, thường nằm về hướng đông bắc của buôn làng. Người Stiêng cấm ngặt không cho bất cứ ai khai phá những khu rừng nầy. Họ tin rằng nếu để cho những khu rừng thiêng nầy bị khai phá thì dân làng sẽ bị các thần linh trừng phạt nặng nề. Tuy nhiên, về mặt môi sinh mà nói, dầu người Stiêng không tiến bộ về khoa học kỹ thuật, nhưng về mặt nầy họ rất tiến bộ, vì họ biết cách cân bằng và giữ cho hệ sinh thái khi họ bảo vệ những khu rừng đầu nguồn nầy. (13) Người Stiêng tin rằng không ai được quyền sở hữu cho riêng mình những khúc sông, suối, rừng hay lâm thổ sản, như mật ong và cây rừng, mà chúng là tài sản chung của buôn làng. Bất cứ người nào trong buôn làng đều có quyền khai thác và sử dụng, nhưng phải bảo vệ những thứ ấy như bảo vệ tài sản của chính mình. Chính vì vậy mà người Stiêng chia đều với nhau tất cả những thứ kiếm được trong rừng. (14) Người Mạ còn được gọi là Chô Mạ, Châu Mạ hay Mọi Mạ. Theo thống kê của bộ Thông Tin VNCH năm 1958 hiện còn khoảng 25.000 người tại các vùng Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Đồng Nai) và Lâm Đồng. Theo Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, và Nguyễn Văn Diệu trong “Văn Hóa Các Dân Tộc Thiểu Số Ở Việt Nam”, NXB Giáo Dục 1997, tr. 13, dân tộc Mạ với dân số khoảng 25.435 người, tập trung ở Lâm Đồng và Đồng Nai. Tuy có nhiều nhóm địa phương, nhưng đây là một cộng đồng thống nhất, có một tên gọi chung, một ngôn ngữ chung và một ý thức chung về tộc người. (15) Theo các bô lão người Mạ, trước thế kỷ thứ XVII, khi tiểu quốc Che Mạ vẫn còn, và chưa có sự tiếp xúc nhiều với người Chăm cũng như vùng những người Mnông tiếp xúc với người Khmer thì chưa có môi trường sinh hoạt của nhóm người Stiêng và Châu Ro. (16) Về phía thượng nguồn sông Đồng Nai người Mạ gọi là Đak-Đơng, tiếng Mạ có nghĩa là ‘Sông Cái’, còn cao nguyên Bảo Lộc cũng được họ gọi là cao nguyên Mạ. (17) Thường thì họ đốn cây sao cổ thụ rồi khoét rỗng ruột để làm thuyền độc mộc. (18) Người Châu Ro còn được gọi là Chu Ru, hay Chơ Ru. Chrau có nghĩa là người và Jro là danh xưng của bộ tộc, thí dụ như Chrau Tơchau có nghĩa là người Châu Ro ở làng Quảng Giao. Hiện còn khoảng 15.000 người đang sinh sống trong vùng Đồng Nai. (19) Tuy nhiên, số lượng từ trong tiếng Châu Ro có nhiều từ vựng Khmer hơn. (20) Thời nhà Nguyễn, các vua chúa đầu triều Nguyễn đã ban cho người Châu Ro những họ thông dụng như Thổ, Tống, Điểu, Lý, Lâm, Văn, Sang, Hoàng, Đào, vân vân. (21) Tuy nhiên, trên thực tế việc mua bán đất đai đối với người Châu Ro rất ít khi xãy ra. (22) Canh tác cố định tại một chỗ để dễ bề kiểm soát cư dân trong thời kỳ chiến tranh. (23) Trong khi đối với người Mạ ‘Tom Bri’ chỉ là người làm chủ rừng. (24) Đối với người Châu Ro, thầy ‘Chang’ là người nắm quyền lực tối cao về thần quyền trong làng. Dưới thầy Chang có ‘Bà Bóng’ là người thực hiện tất cả mọi nghi lễ tín ngưỡng trong làng. Bà Bóng còn lên đồng để phát ngôn những lời phán quyết của thần linh do thầy Chang mời về để chỉ bảo dân làng những việc nên làm và không nên làm. Có thể tục múa bóng của người Nam Kỳ xuất phát từ những thao tác múa bóng của ‘Bà Bóng’ người Châu Ro. (25) Đầu thế kỷ thứ XX, vùng cư trú của người Châu Ro tập trung ở phía bắc vùng Bà Rịa và phía bắc vùng Xuyên Mộc, đến phía bắc núi Thị Vải. Đó là hai tổng Cơ Trạch và Nhơn Xuyên dưới thời nhà Nguyễn. Theo Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, và Nguyễn Văn Diệu trong “Văn Hóa Các Dân Tộc Thiểu Số Ở Việt Nam”, NXB Giáo Dục 1997, tr. 14, người Châu Ro với dân số khoảng 15.002 người, phân bố trên các vùng Bà Rịa và Long Khánh. Ngôn ngữ của họ gần gũi với tiếng nói của người Stiêng, Mạ, nhưng số từ ngữ Khmer pha lẫn nhiều trong tiếng Châu Ro. Ngoài ra, cũng còn một số khá đông người Châu Ro sinh sống trên địa bàn tỉnh Bình Thuận ngày nay. (26) Theo quyển “Ethnic Minorities in Vietnam” của Đặng Nghiêm Vạn, Chu Thái Sơn và Lưu Hùng, NXB Thế Giới, 2000, tr. 271. (27) Liềm mốc là một trong những dụng cụ được dùng trong việc gặt hái lúa nước có thân dài ở những cánh đồng nước sâu. (28) Lưỡi hái là một trong những dụng cụ được dùng trong việc gặt hái lúa nước có thân ngắn ở những cánh đồng cạn. (29) Văn Hóa & Cư Dân Đồng Bằng Sông Cửu Long, Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm và Mạc Đường, NXB Khoa Học Xã Hội, Sài Gòn, 1990, tr. 214-215. (30) Vùng Suối Đá nằm về phía tây nam của thị trấn Dương Minh Châu ngày nay. (31) Hai giống lúa rẫy nổi tiếng của người Tà Mun là T’rô và Sau-sơ-ra ngày nay gần như tuyệt chủng. Người Tà Mun thường gieo những loại lúa nầy từ đầu mùa mưa, đến cuối tháng 8 âm lịch thì lúa chín. Khi lúa vừa chín rộ, người Tà Mun mang gùi ra rẫy để tướt hạt chứ không để chín quá lúa sẽ rụng hết. Người Tà Mun không giã gạo liền mà họ đem lúa đi luộc rồi đem phơi lại cho khô, sau đó mới giã thành gạo, nhưng nồi cơm lúa mới của họ rất ngon. (32) Trong lễ cúng cơm mới, thì sáng sớm ngày cuối tháng tám, mọi người đều tập trung tại nhà già làng, cùng mang theo những cánh hoa tươi đến để kết thành một cây hoa trái thật lớn với màu sắc sặc sỡ chuẩn bị cho lễ rước bóng bằng cách cùng nhau khiêng cây hoa trái đến cây cổ thụ lớn nhất trong làng để cúng kiến, vì người tà Mun tin rằng ông bà sau khi qua đời thường ẩn trú tại những cây cổ thụ. Sau khi già làng đã cúng kiến thì họ bắt đầu nhảy múa ca hát cho đến sáng hôm sau. (33) Theo quyển “Ethnic Minorities in Vietnam” của Đặng Nghiêm Vạn, Chu Thái Sơn và Lưu Hùng, NXB Thế Giới, 2000, tr. 270, năm 2000, người Cơ Ho còn khoảng 92 ngàn người sống rải rác trong các vùng Lầm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận và Khánh Hòa. Trong khi đó, theo Toan Ánh & Cửu Long Giang trong “Cao Nguyên Miền Thượng”, Quyển Hạ, Sài Gòn, 1974, tr. 395-396, Cơ Ho là danh từ dùng để chỉ chung tất cả các sắc tộc sinh sống ở vùng Tuyên Đức, Lâm Đồng, Tây Ninh, Ninh Thuận, Bình Tuy, Bắc Long Khánh và miền đông Quảng Đức. Họ có chung một thứ tiếng, và có nhiều điểm giống nhau về phong tục tập quán. Theo thống kê thời Pháp, người Cơ Ho có chừng 100.000, nhưng theo thống kê năm 1967 chỉ còn khoảng chừng 64.770 người mà thôi. Thành phần gồm khoảng 26.070 người Mạ sinh sống trong các tỉnh Lâm Đồng và Long Khánh; người Sré có chừng 21.778 người sinh sống trong các vùng Lâm Đồng, Bình Tuy, Ninh Thuận và Khánh Hòa; người Cil khoảng 10.479 người, sinh sống ở Tuyên Đức; người Lat khoảng 1.271 người, sinh sống ở Đà Lạt; người Tring có chừng 4.145 người, sinh sống trong vùng Ninh Thuận và Khánh Hòa; người Nop có chừng 981 người ở Lâm Đồng; và người Talai và Queyon có chừng vài trăm người ở vùng Lâm Đồng. (34) Về cả hai mặt tình và lý mà nói, không cớ gì con cháu lại đi tiêu diệt tổ tiên của chính mình.

***
Để tiện theo dõi "Đất Phương Nam 1", kính mời Quí Độc Giả mở Link bên dưới;

 ***