Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

Kỷ Niệm Dấu Yêu - Phần Đầu

Dẫu biết hình dáng cổ kính của ngôi trường Tống Phước Hiệp không còn nữa, nhưng tôi cũng cố đi tìm những gì của ngày xưa còn lưu lại. 
Ngày 22/03/ 2017, tôi đến thăm ngôi trường cũ mà tôi đã gắn bó suốt những năm Trung Học. Đó là trường Trung Học Tống Phước Hiệp, sau năm 1975 đã đổi tên là trường Trung học Phổ Thông Lưu Văn Liệt. Hiện nay, ngôi trường đã không còn chút gì hình bóng cũ, chỉ còn cái cổng cũ kỹ sắp sửa bị phá bỏ để xây mới.

Từ Trái sang: Nguyễn Bá Tường Hiệu Trưởng trường Lưu Văn Liệt, Huỳnh Hữu Đức.

Tôi vào văn phòng tìm thầy Hiệu trưởng, đã từng gặp gỡ nhiều lần, chúng tôi trò chuyện rất hợp. Thầy Tường từng tâm sự với tôi: " Khi có quyết định xây mới, Em đã cố gắng trong khả năng để lưu giữ lại những gì của ngôi trường cũ, lưu giữ lại phần nào kỷ niệm thân yêu cho các anh chị khi có dịp thăm lại trường xưa".
Cũng từ câu nói này, hôm nay tôi tìm về Trường để ghi những gì còn sót lại.

Sau khi gởi tặng trường quyển sách " Một Thoáng Nam Kỳ Lục Tỉnh" của Người Long Hồ Trần Ngọc Em (Cựu Học Sinh Tống Phước Hiệp niên khoá 62-69), và trình bày ý định của mình. Thầy Tường đã giới thiệu với tôi những gì mà Thầy còn giữ đươc.

Trước hết là ngôi mộ "Long Châu Đại Thần Nguyễn Triều?" có từ năm 1925? hay 1927? 

Thầy Tường tâm sự với tôi: "Ngôi mộ này có trước Trường, Em nghĩ đây chính là Chủ miếng đất, mình không thể đuổi hay dời  đi. Chính vì thế em đã cố gắng thuyết phục cấp trên để giữ lại ngôi mộ này, Em sẵn sàng chịu mọi trách nhiệm, nếu bị kỷ luật hay khiển trách".

Thầy Nguyễn Bá Tường bên ngôi mộ cổ được giữ lại.



Mời xem tiếp Phần Cuối

Hình Ảnh Huỳnh Hữu Đức


Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

Rượu Sầu


Phải chăng nhờ tửu phá sầu
Lời yêu chi nữa những câu muộn màng
Trách ai nỡ vội sang ngang
Ta như xác pháo vỡ tan đoạn trường
Mộng tình khi vẫn còn vương
Sao em quay gót đổi đường ái ân
Đau lòng hai chữ cân phân
Khối sầu mượn rượu bao lần chẳng nguôi.
                                     Quên Đi

Thứ Ba, 21 tháng 3, 2017

Bài Tập Thể Dục Trị Đau Lưng-Đau Cột Sống


Bài tập thể dục này có thể nhanh chóng loại bỏ chứng mỏi lưng, đau cột sống nhờ những động tác đưa hệ xương khớp đi vào trật tự vốn có của nó.

Nằm sấp ngóc đầu: Bài tập "đa tác dụng" chống đau lưng, giảm mỡ bụng, săn vòng 2 
Vỗ cánh tay: Bài tập có sức mạnh "kỳ lạ" giúp chữa 7 loại bệnh 
Hơn 90 tuổi khỏe như 60 nhờ bài tập khiến cả làng nô nức làm theo 

Bác sĩ xương khớp, chuyên gia y học chỉnh hình Lâm Thừa Cơ cho biết, mỗi ngày cơ thể hoạt động và làm việc nhiều khiến hệ xương mệt mỏi, đặc biệt là cột sống luôn phải làm việc quá tải.

Muốn 24 giờ khỏe mạnh, ít nhất bạn cần phải làm động tác này mỗi sáng sau khi thức dậy. Đây là động tác dành cho những người muốn duy trì sức khỏe của cột sống một cách bền bỉ. 

Yêu cầu: Phải kiên trì tập vào các buổi sáng, ngay khi bạn thức dậy và vẫn nằm trên giường. 
Bác sĩ Cơ cho rằng, bệnh đau mỏi lưng thường xuyên rất khó được chữa khỏi bằng cách uống thuốc, nếu hiểu được quy luật vận động và phục hồi của xương để phối hợp tập thể dục, bạn sẽ tận hưởng được sức khỏe thật sự của chính mình. 

Phòng chống đau cột sống, thoát vị đĩa đệm gây ra theo cách này sẽ mang lại hiệu quả nhanh chóng. Bài tập này thích hợp cho người làm việc văn phòng, những người hoạt động trong lĩnh vực tài chính, thương nhân hay phải đi lại, những người làm nghề lái xe hoặc công nhân. 
Làm động tác này giúp bạn tránh được hiện tượng đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, khôi phục lại hệ xương khớp vào trạng thái khỏe mạnh ban đầu. Hãy dành hơn 2 phút để xem video và làm theo hướng dẫn. 
Bác sĩ hướng dẫn chữa đau lưng




Động tác 1: Tư thế di chuyển con sâu



Tác dụng: Khôi phục lại hệ xương cột sống và cơ lưng, kéo dài và làm giãn sống lưng, tăng cường chức năng của tim và phổi. 
Thực hiện từ 2-3 phút, nằm ngửa trên giường, 2 tay để thẳng lên đầu, cả người duỗi thẳng từ bàn tay đến ngón chân. Chú ý mũi chân phải thẳng. 
Khi đẩy hông sang trái thì tay và chân hướng sang phải, di chuyển tại chỗ như dáng con sâu đang bò. 

Động tác 2: Co gối quạt chân 

- Tác dụng: Khôi phục lại hệ xương cột sống và cơ lưng, giảm nhẹ áp lực, căng thẳng của não, tăng cường chức năng của tim và phổi. 
Thực hiện khoảng 50 lần (trái/phải), nằm ngửa trên giường, duỗi tay lên trên đầu, đan ngón tay vào nhau, thả lỏng. 
Co đầu gối, thả lỏng cơ thể, đánh chân sang trái/phải hết khả năng trong khi phần thân trên giữ nguyên, thả lỏng cơ thể khi thực hiện, thả đầu xuống dưới để lưng cong nhẹ khi vận động, nếu khó chịu thì nằm hẳn trên giường. 
- Lưu ý: Những người dễ bị đau đầu chóng mặt khi thực hiện động tác thì nên nằm thẳng đầu trên giường là được. Không cần thả đầu xuống dưới. Người mới tập thử nên làm từng bước một. 

Bác sĩ Lâm Thừa Cơ đánh giá đây là bài tập rất tốt để phòng bệnh đau lưng, mỏi cột sống.

Những người chưa bị bệnh thì nên tập để phòng bệnh. Những người đã mắc bệnh thì cần tập đều đặn vào mỗi buổi sáng. Người bệnh nặng kiên trì tập cũng sẽ khỏi bệnh. 
Nếu bạn tập mang lại tác dụng tốt, hãy chia sẻ ngay cho người thân, bạn bè để mọi người cùng khỏe mạnh. 

Trần Ngọc sưu tầm
*Theo NTDTV


Theo longhovinhlong.blogspot.com

Thứ Hai, 20 tháng 3, 2017

Chạnh Lòng



Thế là Tết nhất đã trôi qua
Ta lại nhận thêm một tuổi già
Nhác thấy bề ngoài không biến đổi
Mà xem khí chất chút phôi pha
Như tuồng mệt mỏi khi lên dốc
Và tựa lo âu lúc giảm đà
Tự nhủ Vô Thường, đời vẫn thế
Sao còn thỉnh thoảng mắt hoen nhòa ?
                          Phương Hà
             ( Mồng 6 Tết Đinh Đậu 2017 )

Các Bài Thơ Hoạ

         Bệnh Già

Tha phương lữ thứ Tết mau qua,
Người Việt Nam cao tuổi chóng già.
Bảy mấy xuân rồi chân gối mỏi,
Trung niên tráng kiện tóc sương pha.
Nghỉ hưu, bệnh tật e chờ sẵn,
Chống gậy đau lưng sợ mất đà.
Sống gởi thác về như cát bụi,
Chạnh lòng...rơi lệ mắt trông nhòa !
                 Mai Xuân Thanh
          Mùng 6 Tết năm Đinh Dậu
***
        Ưu Tư


Ừ nhỉ ! Thế là Tết đã qua !
Xuân thì vẫn vậy,chỉ ta già
Sáng ra,gân cốt xem chừng mỏi
Chiều lại, tay chân thấy quá đà
Mới ngó,xác thân tuồng vững chai
mà nhìn,da tóc muối sương pha
Vô thường vẫn biết đời như thế
Sao vẫn ưu tư mắt lệ nhoà !


Xin đọc thêm...một chút ưu tư...nữa

Sao vẫn ưu tư mắt lệ nhòa !
Muốn lòng thanh thản mỗi ngày qua
Vô tư,hỉ xã không thù hận
Tha thứ,cảm thông việc chánh tà
Kiếp sống vô thường như cát bụi
Cuộc đời ngọt nhạt nước đường pha
Nhủ mình ! Xuân mãi là như thế!
Chỉ có thân ta mới phải già
                       songquang
               Mùng 7 Tết Đinh Dậu
                         2/3/2017
***
         An Vui

Tết đến để rồi tết lại qua
Dù không thêm tuổi cũng đang già
Hơi đâu lo nghĩ đầu thêm bạc
Cứ thế vô tư mặc muối pha
Tản sáng vài quyền cho khoẻ khoắn
Xế chiều ít cốc đủ la đà
Vườn Thơ năng viếng đời thêm thú
Chớ để niềm vui phải nhạt nhoà.

Chớ để niềm vui phải nhạt nhoà
Dẫu đời giờ đã tóc sương pha
Thôi đừng nuối tiếc thời xuân sắc
Xin hãy lạc quan lúc xế tà
Bệnh lão trần gian ai cũng vướng
Tử sinh kiếp số mấy người qua
Tuổi đời được mấy thì vui mấy
Sầu não già kia lại chóng già.
                         Quên Đi
***
       Chạnh lòng

Có đến vui cùng sẽ có qua
Ưu tư ý tưởng tuổi đang già
Xuân tình lặng lẽ còn vương cảm
Khát vọng âm thầm khó chuyển pha
Mỏi gối ôm hờn sương nhuộm tóc
Rùn vai giận lẫy thế buông đà
Nhân sinh ký gửi thời vô định
Số phận-căn duyên chẳng xóa nhòa!
                            Mai Thắng
                               170203
***
        Chạnh Lòng

Thế rồi mọi sự cũng vèo qua
Mới đó mà nay thuộc lớp gìa
Nhìn lại cái thân no,đói hiện
Ngó theo vận nước đục,trong pha
Làm sao thắng được mơ đo sức
Chẳng thể hơn đâu bảo lấy đà
Cuộc sống dài lâu càng trắc ẩn
Niềm đau từ đó khó bôi nhòa.
                       Thái Huy,
 ***
         Tự An 
Tết dẫu vui buồn cũng chóng qua
Hơi đâu lo lắng trẻ hay già
Có khi xuân đến vui mà khóc
Cũng lúc hạ về khổ mãi pha
Hạc trắng lưng trời tâm tự tại
Ong vàng ngọn cỏ bóng la đà
Trần gian chẳng phải nơi hằng sống
Được mất hơn thua cứ để nhòa.
                 Cao Linh Tử 
                     5/2/2017
*** 
      Vẫn Còn Xuân

Chồng chất tuổi đời lặng lẽ qua 
Soi gương ừ nhỉ cũng hơi già 
Từ xa đất mẹ còn xuân sắc
Lần lựa xứ người nhuốm tuyết pha
Ngọn nến lụn tim còn ấm áp
Tàng cây trơ góc vẫn la đà
Rằng đây tóc trắng nhưng ta vẫn
Một tấm lòng son chẳng nhạt nhòa
                       Kim Phượng
***


Thứ Sáu, 17 tháng 3, 2017

Mâu Thuẩn



Bài Thơ Xướng Từ Ảnh

         Mâu Thuẩn
Khoát áo mùa đông bước độc hành
Một màu nóng nảy đất trời hanh
Chói chan ánh bạc dường trơ nước
Xơ xác hàng cây đã  trụi cành
Cô lữ băng ngang chân vội vã
Dọc đường để lại vết lanh chanh
Không tên bức vẽ đầy thâm ý
Đánh đố người xem giống tội hành!
                       Cao Linh Tử
                         15/12/2016

Bài Thơ Hoạ

          Về Đâu

Trời như thiêu đốt chẳng ai hành
Lửa hạ đổ màu bãi cát hanh
Một bóng về đâu thân độc vãng
Hàng cây lặng chết đứng trơ cành
Mặt hồ gợn ảnh lòng chao đảo
Chiếc nhạn mong đàn giọng chách chanh
Đày đoạ chi thân ơi lữ khách
Trời như thiêu đốt chẳng ai hành
                           Quên Đi

***

Thứ Năm, 16 tháng 3, 2017

Đất Phương Nam I - Phần 1 Cộng Đồng Những Cư Dân Bản Địa Trên Đất Nam Kỳ Xưa



Tổng Quan Về Những Cộng Đồng Cư Dân Cổ Tại Nam Kỳ: 
Người Việt chỉ mới có mặt trên vùng đất Nam Kỳ khoảng trên 300 năm nay mà thôi, và theo các di chỉ khảo cổ khai quật được thì vùng đất mà ngày nay chúng ta gọi là Nam Kỳ, Nam Phần hay Đất Phương Nam đã từng có những cộng đồng cư dân bản địa sinh sống từ mấy ngàn năm trước. Đất Nam Kỳ trước đây trực thuộc vương quốc Phù Nam từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII; sau khi vương quốc Phù Nam bị tiêu diệt thì nó trực thuộc vương quốc Chân Lạp. Kể từ thế kỷ thứ IX trở về sau nầy, vùng đất nầy có tên là Thủy Chân Lạp. Như vậy rõ ràng trước khi người Việt đến đây, vùng đất nầy đã có nhiều cộng đồng cư dân bản địa. Những cộng đồng cư dân cổ nầy đã cư ngụ tại vùng đất mà bây giờ chúng ta gọi là Nam Kỳ trước khi cha anh chúng ta đến đây hàng ngàn năm, và có lẽ họ đã ở đây trước những người Phù Nam lâu lắm. Đây là bản địa của các bộ tộc Mạ, Châu Ru, Stiêng, Cơ Ho, và Tà Mun, vân vân.
Khoảng từ 4 đến 5 ngàn năm trước, trong khi miền Bắc xuất hiện văn hóa Đông Sơn, miền Trung xuất hiện văn hóa Sa Huỳnh, bên Thái Lan xuất hiện văn hóa Bản Chiềng, thì ở vùng đồng bằng Nam Phần cũng xuất hiện một loại văn hóa mà bây giờ các nhà khảo cổ gọi là văn hóa ‘Đồng Nai’. Chính những cộng đồng cư dân cổ nhất trên vùng đất nầy là chủ nhân ông của nền văn hóa Đồng Nai nầy. Thành thật mà nói, chắc hẳn văn hóa Đồng Nai phải có sức sống mãnh liệt lắm mới có thể tồn tại và phát triển hàng ngàn năm trước thời Phù Nam, để rồi sau đó nó được tiếp nối bởi văn hóa Óc Eo, cũng rực rỡ không kém. Vào khoảng ba ngàn năm trước tây lịch, một số bộ tộc Nam Á và Nam Đảo đã đến vùng Đồng Nai khai phá vùng đất mà bây giờ chúng ta gọi là Đồng Bằng Miền Đông(1).

Họ đã xây dựng nên các khu cư dân lớn trong vùng như Đồng Nai, Hàng Gòn, Dầu Giây, Sông Bé, Suối Chồn ở Xuân Lộc, Gò Dưa ở Tân Phú, Long Thành, Vàm Cỏ, và nhất là những vùng ven hai bên bờ sông Đồng Nai, vân vân. Thật vậy, theo kết quả của những di chỉ khảo cổ thì cư dân cổ tại các vùng nầy đã để lại rất nhiều chứng tích của nền văn hóa Đồng Nai. Rõ ràng trước khi người Việt Nam mở cõi về phương Nam, trên vùng đất mà bây giờ chúng ta gọi là Nam Kỳ đã từng có những nền văn hóa rực rỡ. Ngay cả trước khi người Phù Nam từ các vùng Nam đảo đến đây để thành lập vương quốc Phù Nam, tại đây cũng đã có cư dân cổ. Theo các nhà khảo cổ học, những di chỉ của nền văn hóa Đồng Nai đã được tìm thấy rải rác khắp các tỉnh miền Đông, mà ngôi cổ mộ ‘Hàng Gòn’ là một thí dụ điển hình; trong khi những di chỉ của nền văn hóa Tiền Óc Eo cũng đã được tìm thấy tại vùng Giồng Phệt. Nhiều nhất là những di chỉ của nền văn hóa Óc Eo (Phù Nam) đã được tìm thấy tại một hải cảng cổ mang tên Óc Eo.

Sau khi người Phù Nam bị triệt tiêu vào khoảng thế kỷ thứ VII, mặc dầu Chân Lạp trở thành chủ nhân ông của vùng đất nầy, nhưng di chỉ về văn minh Angkor chỉ được tìm thấy trên vùng Lục Chân Lạp mà thôi. Trước khi các chúa Nguyễn mở cõi về phương Nam, nhiều lưu dân Việt Nam đã phiêu lưu đến vùng đất nầy tự khai hoang tìm sinh lộ. Tính đến nay, người Việt đã có mặt trên vùng đất nầy khoảng trên dưới 4 thế kỷ, nhưng họ cũng tạo cho vùng đất nầy một nền văn hóa mang tính đặc thù của riêng nó. Tuy không khác xa lắm với nền văn hóa cổ truyền, nhưng cũng không còn hoàn toàn giống với nền văn hóa Thăng Long hay Phú Xuân nữa. Sự khác biệt giữa nền văn hóa truyền thống Việt Nam và văn hóa Nam Kỳ chủ yếu phát sinh từ những hội nhập và thẩm thấu các nền văn hóa Champa và bản địa vùng Thủy Chân Lạp khi người Việt đang lần bước về phương Nam.

Những cư dân cổ ở đây đã xây dựng nên những cộng đồng lớn ở nhiều địa điểm khác nhau. Điều nầy đã được chứng minh bởi những khai quật khảo cổ với những loại hình vật dụng bằng đá và gốm sứ của những vật dụng đã được cư dân văn hóa Đồng Nai sử dụng trong các hoạt động nông nghiệp, săn bắn và hái lượm trong sinh hoạt hàng ngày. Riêng trong vùng phía bắc đồng bằng miền Đông người ta tìm thấy những loại hình di chỉ ‘công trình đất hình tròn’, nơi cư trú của cư dân văn hóa Đồng Nai. Đây là một loại hình cư trú khá đặc biệt mà cư dân cổ vùng Đồng Nai làm nơi cư trú đã được tìm thấy nhiều nơi trong vùng. Thường thì trên mỗi ngọn đồi thoai thoải, cư dân cổ xây dựng một hệ thống hai lớp tường đất đắp cao có hào sâu chính giữa, lớp tường bên ngoài thường cao hơn lớp tường bên trong(2).

Rõ ràng đây là một công trình giống như thành lũy để bảo vệ và che chắn nơi cư trú. Hầu như đa số những di chỉ tìm thấy của nền văn hóa nầy đều có truyền thống kỹ thuật đồ đá và gốm sứ trong việc chế tạo ra mọi vật dụng cho sinh hoạt thường ngày của họ. Vì cuộc sống của họ phải lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên họ thường tìm những nơi có sông hồ để lập nên nơi cư trú tập thể. Ngoại trừ một số bộ tộc sống trên những vùng đồi núi thấp của miền Đông Nam Phần, đa số cư dân thuộc văn hóa Đồng Nai đều tập trung tại các vùng sông nước. Họ luôn gắn bó với dòng sông và bến nước vì chính dòng sông đã cho họ chẳng những nguồn nước trong sinh hoạt, mà còn cho họ lương thực và phương tiện di chuyển nữa. Thời đó cư dân dọc theo hai bên bờ sông Đồng Nai và sông Bé đã sớm phát triển để trở thành vùng dân cư có kinh tế trù phú nhất trong vùng.
Tuy nhiên, khoảng những năm cuối trước tây lịch một số bộ tộc khác từ Nam Á và Nam Đảo đến đây và đã tạo ra những xáo trộn chính trị trong vùng để rồi cuối cùng đến đầu thế kỷ thứ nhất sau Tây lịch thì vùng đất nầy hình thành một vương quốc mang tên Phù Nam. Vương quốc nầy phát triển đến cực thịnh vào khoảng thế kỷ thứ IV, nhưng rồi đến thế kỷ thứ bảy nó lại suy tàn, và toàn thể vùng đất Nam Kỳ lại rơi vào tay của vương quốc Chân Lạp. Riêng về phần lịch sử cư dân vùng đất Nam Kỳ thời kỳ vương quốc Phù Nam cho tới bây giờ hãy còn rất mù mờ không những đối với thế giới, mà còn ngay cả với các lân quốc trong vùng Đông Nam Á nữa. Theo các thư tịch cổ của Trung Hoa, vương quốc thì Phù Nam hay còn gọi là ‘Diệu Nghiêm Quốc’ xuất hiện khoảng đầu thiên niên kỷ Tây lịch và tồn tại khoảng trên dưới bảy thế kỷ. Các nhà khảo cổ đã và đang tiếp tục khai quật các di chỉ rải rác khắp vùng Nam Kỳ từ di chỉ Gò Chùa, Gò Tháp, Gò Rộc Chanh, Gò Sao, Gò Cây Thị, và Cạnh Đền, vân vân. Tuy công việc chưa hoàn tất, nhưng qua những kết quả gặt hái được từ những mẫu đất nung, những mảnh gốm sứ, và rất nhiều di vật khác có thể giúp chúng ta có những nhận định tương đối ít mù mờ hơn về hình ảnh của cộng đồng cư dân cổ thời vương quốc Phù Nam. Theo tài liệu khai quật khảo cổ thì tại vùng Óc Eo(3), dưới chân núi Ba Thê, vào những thế kỷ thứ II và thứ III có nhiều ngôi đền bằng gạch bên cạnh những khu nhà sàn liền nhau trên một khu đất rộng lớn. Điều nầy trùng hợp với những khai quật khảo cổ tại đây vào những thập niên 1930s và 1940s. Căn cứ vào những bông tai, nhẫn, cà rá, và chuỗi hột đào được, người ta đoán những khu nhà sàn nầy có lẽ là những khu buôn bán sầm uất của người Phù Nam. Điều nầy cũng trùng hợp với những ghi chép từ phía Ấn Độ là vào những thế kỷ từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ VII, rất nhiều thương gia Ấn Độ đến khu cư dân mà bây giờ chúng ta gọi là Đồng Bằng Sông Cửu Long để mua bán. 

Sự Phát Triển Của Các Bộ Tộc Bản Địa Ở Nam Kỳ Trước Thời Vương Quốc Phù Nam:
Từ khi được định hình cho đến ngày nay, miền Đông Nam Kỳ luôn là vùng đất của những cánh rừng già đất đỏ; trong khi miền Tây luôn là khu trũng thấp cho mãi đến khoảng ba mươi thế kỷ trước tây lịch thì sông Cửu Long mới bồi đắp và tạo hình cho nó có dáng vẻ giống như ngày nay. Như vậy phải nói địa bàn cư trú chính của những bộ tộc cư dân cổ trên miền đất Nam Kỳ xưa phải là miền Đông Nam Kỳ. Như trên đã nói, nhưng cư dân cổ đầu tiên trên vùng đất nầy là những người Nam Á và Nam Đảo(4), có nguồn gốc Indonesien, có tiếng nói thuộc ngữ hệ Môn-Khmer cổ đại. Họ đã dong buồm đến định cư ven hai bên bờ sông của những vùng đất cao cách đây khoảng trên dưới ba ngàn năm trước tây lịch. Tuy nhiên, theo kết quả khai quật khảo cổ của những di chỉ săn bắn và hái lượm bằng đá tìm thấy rải rác khắp nơi chứng tỏ khi mới đến đây những cư dân cổ nầy không định cư hẳn tại một vùng, mà họ là những bộ tộc du mục chia làm hai nhóm: săn bắn và hái lượm. Thời đó họ luôn di chuyển trên khắp địa bàn miền Đông Nam Kỳ để săn bắn và hái lượm. Tuy nhiên, sau đó cả hai nhóm săn bắn và hái lượm dần dần định hình những khu vực định cư riêng biệt cho chính bộ tộc mình. Có lẽ ngay từ khoảng ba bốn ngàn năm trước đây, khi nền nông nghiệp nguyên thủy bắt đầu xuất hiện, nghĩa là sau khi con người đã phát hiện ra cây lúa và đã biết đến chăn nuôi một số gia súc và bắt đầu thành hình những khu cộng đồng cư dân cố định, từ đó xuất hiện những cuộc xung đột giữa những bộ tộc cổ để xác định quyền sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong địa bàn quản lý của bộ tộc mình. Có thể hồi đó những cư dân bản địa đầu tiên tại đây là tổ tiên của người Mnông ngày nay và người Stiêng ở trong khu vực săn bắn ở các vùng cao nguyên Nam Trung Phần, vì cả hai giống người Mnông ngày nay và người Stiêng đều có tiếng nói gần giống nhau, có ngữ âm và ngữ điệu rất gần nhau, và mãi cho đến ngày nay họ vẫn còn chung sống trong một buôn làng mà không phân biệt Mnông hay Stiêng. Trong khi đó, người Mạ và người Châu Ro ở trong khu vực hái lượm từ phía đông sông Đồng Nai đến Bà Rịa-Vũng Tàu lại có tiếng nói hoàn toàn khác biệt với người Mnông và Stiêng. 

Cộng Đồng Người Stiêng Ở Miền Đông Nam Kỳ: 



Như trên đã nói, có lẽ tổ tiên người Mnông ngày nay cũng là tổ tiên của người Stiêng(5) ở trong khu vực săn bắn trên vùng cao nguyên Nam Trung Phần. Hai bộ tộc nầy đều thuộc giống người thuộc ngữ hệ Môn-Khmer, có tiếng nói ngữ âm và ngữ điệu gần giống nhau, có chế độ gia đình giống nhau. Theo thống kê của bộ Thông Tin VNCH năm 1958 về người Mnông tại các vùng Nam cao nguyên Trung Phần và Biên Hòa có khoảng trên 67.000 người. Trong khi người Stiêng tại các vùng Nam cao nguyên Trung Phần, Lâm Đồng, Biên Hòa và Tây Ninh gồm khoảng trên 50.000 người. Người Stiêng có thân hình khỏe mạnh, cao lớn, mũi cao, chân mày rộng, sọ tròn, hốc mắt không sâu, tóc hơi quăn, da ngăm đen, nhanh nhẹn, thích sự náo động và săn bắn. Họ ở trong vùng rừng núi có nhiều hoang thú nên tổ tiên của họ đã sớm phát triển những kỹ thuật săn bắn các loại thú lớn, cũng như truyền lại cho những thế hệ sau nầy những loại chất độc có thể vật chết con mồi rất nhanh. Thường thì nhóm người Stiêng đi rừng săn bắn đều được trang bị với những khí cụ như chà gạt(6), dao nhọn(7), rìu(8), và cuốc(9). Mãi đến ngày nay tại nhiều nơi ở vùng Tây Nguyên hai bộ tộc Mnông và Stiêng vẫn còn chung sống trong một buôn làng mà không hề phân biệt Mnông hay Stiêng. Sở dĩ có sự phân biệt do bởi về sau nầy trong quá trình di chuyển về phía Nam, một bộ phận của người Mnông đã đi về phía đông nam để săn bắn và bẫy thú ở những vùng rừng rậm có đầm lầy dọc theo phía tây sông Bé, phía tây bắc sông Đồng Nai, và quanh vùng núi Bà Đen. Bộ phận nầy đã tiếp xúc và gần gủi với người Khmer trong vùng và đã tự hình thành một nhóm tộc người khác có tên là Stiêng. Sau đó một bộ phận của nhóm người Stiêng nầy lại di chuyển đến khu vực trũng của vùng Bình Long-Phước Long ngày nay, nơi có những vùng đất bưng biền và đầm lầy, khai phá thành ruộng rẫy, mà ngày nay người ta gọi là Stiêng Bu-dek(10). Đến cuối thế kỷ thứ XIX khi thực dân Pháp bắt đầu phát triển những đồn điền cao su ở miền đông Nam Phần, vì không thích ứng được với sự thay đổi của hệ sinh thái nên người Stiêng đã phải rút sau vào rừng hay đi về phía cao nguyên Nam Trung Phần. Đây là biến cố khiến cho dân số của bộ tộc Stiêng bị giảm đi rất nhanh vì họ đã quen với những khu rừng già nhiệt đới trên vùng đất đỏ với sông rạch và nước nôi đầy đủ, nay lại phải rút sâu vào những vùng đất xám nơi có rất ít sông ngòi và nguồn nước thật là khan hiếm. Bên cạnh đó, trong những khu rừng nầy có rất ít thú nhỏ cho họ săn bắn mà ngược lại, họ bị thú dữ như cọp, beo, gấu, và voi uy hiếp trong sinh hoạt hằng ngày. Đối với người Stiêng, việc săn bắn được xem là quan trọng trong việc tìm kiếm thực phẩm vì họ không có thói quen chăn nuôi trâu bò hay những thứ gia cầm khác. Chính vì vậy mà người Stiêng rất thành thạo về săn bắt và câu cá. Tuy nhiên, việc săn bắn của họ rất bấp bênh vì họ hoàn toàn tùy thuộc vào hoàn cảnh thiên nhiên. Đến mùa mưa, họ thường tổ chức những cuộc đi săn cá trên những dòng suối.
Cộng đồng người Stiêng trong vùng An Lộc 

Đối với các buôn làng người Stiêng, quyền lợi sở hữu tập thể là một quyền lợi tối cao. Đất sở hữu tập thể bao gồm đất cất nhà ở, đất rẫy, đất luân canh(11), đất cấm(12), sông, suối, rừng và lâm thổ sản từ rừng núi(13). Trong xã hội người Stiêng, ít khi người ta nói đến quyền sở hữu gia đình, mà người ta thường nói đến quyền sở hữu dòng họ, thí dụ như một dòng họ sở hữu một cái nhà dài, chiêng, ché rượu, vòng vàng trang sức, thóc lúa, đậu, ngô, khoai, cũng như tất cả súc vật như trâu bò, heo, gà, vịt, vân vân, và một khu đất ven suối để canh tác cho riêng dòng họ mình. Tất cả mọi người trong gia đình nhỏ đều ở chung với những gia đình nhỏ khác trong một khu nhà dài của dòng họ. Đó là những ngôi nhà dài truyền thống, trong đó có vài gia đình nhỏ hay một gia đình lớn với nhiều thế hệ cùng nhau sinh sống. Thường thì những ngôi nhà nầy có hai cửa lớn ở hai đầu nhà và lẫm lúa ở dưới sàn nhà, hai mái thường phủ xuống chỉ còn cách mặt đất chừng 4 tấc mà thôi. Nhà dài khoảng từ 30 đến 40 mét nếu có khoảng ba bốn gia đình chung sống; nếu có khoảng năm hoặc sáu gia đình thì ngôi nhà sẽ dài từ 50 đến 60 mét. Đất đai của dòng họ thường được buôn làng chia theo nhân số lao động; tuy nhiên, bất cứ dòng họ nào bỏ đất hoang thì đất ấy sẽ bị buôn làng lấy lại để chia cho dòng họ khác. Như vậy, đối với người Stiêng, gia đình và dòng họ không thể tự quyền chuyển nhượng tài sản đất đai mà phải do vị đứng đầu làng (Tom Bon) thay mặt làng để chuyển nhượng, và sự sang nhượng có thể thực hiện bằng cách trao đổi tôi tớ, còng chiêng, ché đựng rượu, trâu bò hay tiền bạc. Điểm đặc biệt trong quyền chuyển nhượng đất đai của người Stiêng là họ không thể nhượng đất cho người ngoài làng. Người Stiêng rất xem trọng nghi lễ chuyển nhượng, chính vì vậy mà mọi người trong làng đều phải đến để chứng giám cho sự chuyển nhượng nầy. Người Stiêng có tập tục ‘cà răng căng tai’, thường thì họ cà răng tới nướu và căng tai tới tận vai. Không phải ai cũng được ‘cà răng căng tai’, mà chỉ có những giai cấp quí tộc mới được cái vinh dự nầy, vì nó là dấu chỉ được sự kính trọng của các giai cấp khác. Ngoài ra, người Stiêng còn có tập tục đeo đủ thứ vòng bạc, đồng và xâm mình. Về cách ăn mặc, đàn ông người Stiêng thường đóng ‘khố’ và đàn bà có khi cũng đóng khố, có khi thì họ lại vận sà rông như kiểu người Khmer, nhưng phần trên để trần, nhưng đến mùa lạnh họ thường quấn mền trùm khắp cả thân người. Cũng như xã hội người Việt, người Stiêng cũng có kẻ giàu người nghèo, có những gia đình quá nghèo nên con cái đến tuổi trưởng thành vẫn không có quần áo để mặc. Thỉnh thoảng có những gia đình có con trai đến tuổi lấy vợ, nhưng vì quá nghèo nên phải đem bán bớt con mình để lấy tiền về cưới vợ cho con trai. Chính vì vậy mà tệ nạn buôn bán nô lệ trong xã hội người Stiêng vẫn còn tới ngày nay. Đối người người Stiêng, nợ của cha mẹ đời nầy không trả hết thì con cái phải tiếp tục làm nô lệ để trả tiếp. 

Đàn ông Stiêng đóng khố và ở trần 

Kỳ thật tình trạng buôn bán nô lệ không chỉ xãy ra trong xã hội người Stiêng, mà nó xãy ra trong hầu hết các buôn làng cư dân bản địa thiểu số như Mạ, Cơ Ho, và Châu Ro, vân vân. Về mặt tín ngưỡng, người Stiêng tin tưởng vào các vị thần sông, thần núi, thần, thần rừng, thần đất, vân vân. Nhưng kể từ khi tiếp xúc nhiều với người Khmer, người Stiêng cũng thờ ‘Néak Tà’, có thể xem là vị ‘Thổ Thần’ của người Việt. Vào mùa mưa, người chủ gia đình thường mang lễ vật tới miễu thờ ông Tà và cử hành lễ lạc tại đây, vì họ tin rằng làm như vậy ‘Ông Tà’ sẽ vừa lòng và ban cho họ một năm sống trong sự an bình và thịnh vượng. Sau khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, thì miền Nam lại bị lâm vào chiến tranh triền miên trong suốt từ năm 1960 đến năm 1975. Những khu rừng nơi người Stiêng cư trú bị chiến tranh tàn phá. Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa phải tiếp trợ cho họ về mọi mặt từ nhà ở đến lương thực. Đến năm 1970, cuộc sống của người Stiêng ở miền đông Nam Phần đã tương đối ổn định về mặt vật chất; tuy nhiên, cuộc sống tinh thần của họ vẫn bị xáo trộn khi họ bị tách rời ra khỏi vùng môi sinh thiên nhiên. Sau năm 1975, chiến tranh chấm dứt, đa số người Stiêng đã tản cư ra thành thị đều hồi cư trở về khu sinh thái thiên nhiên trước đây.

Mời xem tiếp phần 2

Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

Ức Đông Sơn Kỳ 1 - Lý Bạch


Ðã lâu không về Ðông Sơn  (hay quê nhà)  / Nơi có động tường vi  (hay mai vàng  nở muộn) vào cuối xuân đầu hạ / Vào một đêm trăng không trăng  mây trắng đầy trời / Còn không vầng trăng xưa dẫn lối tôi về ? 
 
Đêm Trăng Nhớ Nhà
PKT - Mây Tần 2013Quê nhà lâu trở lại ,
Mai nở  đã bao mùa .
Mây trắng trời phiêu lãng ,
Trăng nào rụng lối xưa  ?

Hôm nay ngồi chép lại để cho vui . PKT 02/28/2017

***


憶東山其一        Ức Đông Sơn Kỳ 1           
           李白                      
Lý Bạch                           

不向東山久,   
Bất hướng Đông Sơn cửu                          
薔薇幾度花。   
Tường vi kỷ độ hoa           
白雲還自散,   
Bạch vân hoàn tự tán           
明月落誰家。   
Minh nguyệt lạc thùy gia                           

Dịch nghĩa

      Nhớ Đông Sơn

Đã lâu rồi không đến Đông Sơn
Hoa Tường Vi đã nở mấy lần ?
Mây trắng lại tự tan ra
Trăng sáng rụng xuống nhà nào ?

Dịch Thơ

1/
         Đông Sơn xa cách lâu rồi
Tường Vi mấy lượt đâm chồi ra hoa
           Mây khi hợp lúc rời xa
Vầng trăng trong sáng ghé nhà ai đây.

2/
Lâu rồi chưa trở lại Đông Sơn
Bao lượt Tường Vi ong bướm vờn
Mây trắng lang thang đi khắp nẻo
Nhà ai thắp sáng ánh trăng đơn.

3/
Quê cũ quá xa vời
Tường Vi mấy lượt rơi
Mây kia còn lạc lối
Trăng ghé nhà ai chơi.
                              Quên Đi

***      
      憶東山                   ỨC ĐÔNG SƠN
                 李白                              Lý  Bạch.
   不向東山久,       Bất hướng Đông sơn cữu,
   薔薇幾度花?       Tường vi kỷ độ hoa ?
   白雲還自散,       Bạch vân hoàn tự tán,
   明月落誰家?       Minh nguyệt lạc thùy gia ?

CHÚ THÍCH :
           1. HƯỚNG : Danh từ là Phương hướng. Động Từ là Quay về phía nào đó, là Trông ngóng. BẤT HƯỚNG : Không có đi về hướng nào đó.
           2. ĐỘ : là Lần, là Lượt. là Niên độ : Mỗi năm một lần. KỶ ĐỘ là Mấy lần , Mấy lượt, là Mấy năm trời rồi.
           3. HOÀN : Động từ là Trả trở lại. Trạng Từ là Vẫn, Vẫn còn. Trong bài thơ là Trạng từ.
           4. LẠC : là Rơi, Rụng. Ở trong bài thơ có nghĩa là Lặn .
DỊCH NGHĨA :
                                 NHỚ ĐÔNG SƠN
        Đã lâu lắm rồi, không có về thăm lại Đông Sơn. Không biết là hoa tường vi đã mấy lần tàn rồi lại nở ?. Không biết là, mây trắng có còn tự mình tan biến trên bầu trời Đông Sơn không, và đêm nay, vầng trăng sáng kia sẽ rụng xuống nhà của ai đây ?!
        Có tài liệu cho rằng Đông Sơn ở đây là chỗ ở của danh tướng Tạ An, nơi Lý Bạch đã từng 3 lần đến và làm cả thảy 15 bài thơ.
        Đông Sơn có Tường Vi Động, có Bạch Vân Hiên và Minh Nguyệt Đường, cho nên bài thơ trên còn có ý nghĩa song quan như sau : 
        Đã lâu lắm chưa về thăm lại Tường Vi Động của Đông Sơn, không biết là hoa ở đó đã tàn nở được mấy lần rồi ?. Không biết mây ở Bạch Vân Hiên có còn tự mình tan biến, và trăng ở Minh Nguyệt Đường đêm nay rụng xuống nhà của ai đây ?!

DIỄN NÔM :
                              NHỚ ĐÔNG SƠN
                          Đông Sơn lâu không đến,
                          Mấy độ tường vi phai ?
                          Mây trắng còn tan biến,
                          Trăng vàng rụng nhà ai ?!
       Lục bát  :
                     Đông Sơn lâu quá không qua,
                     Tường vi mấy độ hoa đà phôi phai ?
                     Ngẩn ngơ mây trắng còn bay,
                     Trăng vàng rụng xuống nhà ai đêm này ?!
                                                     Đỗ Chiêu Đức.
***
        Nhớ Đông Sơn

( 1 )
Đông Sơn giã biệt lâu rồi
Tường vi năm cũ còn cười trước sân ?
Mây trời tản mác bao lần 
Nhà ai ngập bóng trăng vàng đêm nay ?

( 2 )
Đông Sơn đã cách xa
Tường vi mấy độ hoa ?
Mây trời còn tản mác
Trăng có rụng hiên nhà ?

( 3 )
Đông Sơn cách biệt đã lâu rồi
Bao độ tường vi nở rạng ngời ?
Mây trắng vẫn còn đang tản mác
Nhà ai trăng xuống ngõ thăm người ?

( 4 )
Đông Sơn đã từ lâu cách biệt
Tường vi xưa mấy dịp đơm hoa ?
Mây còn tản mác trời xa 
Trăng vàng rơi xuống hiên nhà của ai ?
                 Phương Hà phỏng dịch
***
      Đông Sơn Nhớ Lại

1) Lâu rồi không ghé Đông Sơn
Tường vi mấy độ đẹp hơn...hoa tàn
Vân Hiên mây trắng hợp tan
Nguyệt Đường đêm rụng trăng vàng nhà ai !

2) Nhớ lại Đông Sơn lâu chẵng ghé
Thăm Tường Vi đẹp đẻ đổi thay
Hợp tan gió nhẹ mây bay
Nhà ai trăng rụng đêm nay ánh vàng

3) Đông Sơn không ghé lại
Mấy độ hoa Tường Vi
Mây trời còn tan hợp
Trăng rụng nhà ai đi ...!
                 Mai Xuân Thanh
          Ngày 01 tháng 03 năm 2017
***
         Nhớ Đông Sơn 

Cách biệt  Đông Sơn chưa trở lại
Tường Vi mấy lượt nhụy tàn phai
Mây kia lờ lững dần tan tụ
Trăng sáng sân nhà nhà của ai
                   Kim Phượng
***
Nhớ Sơn Đông

Chưa về thăm lại non Đông
Tường Vi năm cũ trổ bông bao lần
Mây bay man mác tan dần
Nhà ai vàng ánh một vầng trăng soi?
              Kim Oanh phỏng dịch
***