Thứ Hai, 24 tháng 7, 2017

Cái Nóng Ngày Hè



   Cái Nóng Ngày Hè
Cái nóng Cali nực quá ta
Đau đầu sổ mũi phải nằm nhà
Quê cha hạ bức sông hồ cạn
Đất mẹ hè oi xứ sở xa
Cỏ cháy đồng khô hoa héo úa
Cây cao bóng mát lá vèo qua
Cờ bay trước gió lên phơi phới
Tứ hải giai huynh đệ với ta...

               Mai Xuân Thanh
       Ngày 24 tháng 06 năm 2017

***
Bài Họa:
 

              Hè Cali
Khí hậu Cali hạp với ta,
Đi đâu cho mệt, quẩn quanh nhà.
Núi đồi rừng thẳm không gần lắm
Bãi biển cát vàng chẳng quá xa.
Sáng sáng trên hoa sương đọng lại,
Chiều chiều trong lá gió vờn qua.
Chim gù nắng hạ quê hương nhớ
Cái thú mơ màng, mộng của ta.

                              Mailoc
                             6-24-17
***
             Giữa Hè

Chiều ra trước ngõ một mình ta
Ngóng gió đi ngang trước cửa nhà
Cây cỏ im lìm bên dốc vắng
Ao hồ cạn kiệt giữa đồng xa
Bụi tre vàng úa, buồn thiu đợi
Mây xám vô tình, lặng lẽ qua
Tay quạt liên hồi mà vẫn nóng
Trời hành khốn khổ cái thân ta. 

                         Phương Hà
***
Trưa Hè Nhớ Võng Mẹ Ru
 

Trưa hè nóng nực chỉ mình ta
Ngồi trước mái hiên cạnh cửa nhà
Ngó trẻ vui chơi đùa nghịch nước
Nhìn người lam lủ mệt đường xa
Giàn hoa thiên lý che râm mát
Lất phất gió nồm cứ thoảng qua
Nắng hạ oi nồng thiêm thiếp ngủ
Nhớ ngày tiếng võng Mẹ ru ta 

                        Song Quang
                    (Một thời để nhớ)
                          6/26/2017
***
           Trốn Nóng
 

Trưa hè nực nội chẳng riêng ta
Chiếc quạt trên tay đứng trước nhà
Tìm lại hơi xuân vừa lẫn trách
Cố xua cái nóng dạt ra xa
Bầu trời trong vắt không mây gợn
Ngõ hẻm vắng teo ít kẻ qua
Coi bộ mọi người đang trốn nắng
Trưa hè nực nội chẳng riêng ta.

                            Quên Đi
***
     Nóng Muốn Thấy Bà

Nực nội thấy bà chẳng một ta,
Nắng thôi muốn chết trước hiên nhà.
Người già quạt gió than trời nóng,
Trẻ nhỏ cởi truồng tắm rạch xa.
Chim chóc êm re không một móng.
Bộ hành vắng ngắt chẳng người qua.
Nắng sao nắng qúa như thiêu đốt,
Nóng muốn thấy bà chẳng một ta ! 

                          Đỗ Chiêu Đức
***
        Nóng Ngày Hè
 

Nóng trời mệt thở há riêng ta?
Có lẽ nhiều nơi khắp mọi nhà
Phanh rốn xả hơi,hơi xứ lạ
Vén tà chờ gió,gío phương xa
Mong hoài phát oải mà đâu thấy
Đợi mãi sinh điên cũng chẳng qua
Đành kéo dăm lon hầu giải khát.
Nóng trời mệt thở há riêng ta?

                           Thái Huy
*** 

    Hương Tình Tháng Hạ 

Từ khi viễn xứ biệt quê ta
Thương nhớ làm sao non nước nhà
Cứ mỗi hè về mơ tiếng quốc
Mỗi lần hạ đến tiếc năm qua
Lời ru của Mẹ còn vang bóng
Chiếc võng bà đưa vẫn vọng xa
Cái nóng phương nầy đâu sánh được

Quê mình,bão tố khổ dân ta.
                  Song MAI Lý Lệ
                          6/28/2017

Thứ Sáu, 21 tháng 7, 2017

Đất Phương Nam 1 (TT)- Phần 3 Đồng Bằng Miền Đông



Những Mốc Lịch Sử Quan Trọng Của Đồng Bằng Miền Đông: 

Ngay từ khi Nguyễn Hoàng được cử vào cai quản vùng đất Thuận Hóa vào năm 1558, ắt hẳn đã có lưu dân người Việt phiêu lưu tìm đất sống ở vùng miền Đông Nam Kỳ rồi. Đến khi quân Đại Việt chiếm Phú Yên vào năm 1611, con đường tiến vào đất Thủy Chân Lạp đã được rút lại thật ngắn. Đến năm 1693, vương quốc Champa coi như không còn nữa, biên giới giữa Đại Việt và Thủy Chân Lạp đã đến vùng Bình Thuận. Tuy nhiên, ngay những năm từ năm 1620 đến năm 1623, sau khi chúa Nguyễn Phúc Nguyễn gả công nữ Ngọc Vạn cho vua Chei Chetta II và xứ Đàng Trong đã đặt xong 2 trạm thu thuế ở các vùng Chợ Lớn và Sài Gòn ngày nay, đã có rất nhiều người Việt đến khẩn hoang lập ấp ở đồng bằng Miền Đông rồi.
Thật ra, vùng đất Thủy Chân Lạp chỉ trực thuộc vương quốc Chân Lạp trên danh nghĩa mà thôi, trên thực tế hầu như vùng đất nầy là một hoang địa kể từ khi vương quốc Phù Nam bị triệt tiêu. Người Khmer, nếu có, chỉ sống rải rác ở các vùng gò cao. Còn lại những bộ tộc cư dân cổ như Mạ, Stiêng, Cho-Ro, Cơ Ho, vân vân, cũng sống thưa thớt ở những vùng đồi núi mà thôi. Khi người Việt đến đây, hình như họ đang đi vào một vùng đất không người, vùng đất vô chủ, vùng đất không ai muốn tranh chấp với ai. Lúc đó cù lao Phố, tức vùng Biên Hòa bây giờ là ải địa đầu với đường bộ lên Cao Miên và ra Trung, cũng như đường thủy xuống Sài Gòn.
Chính vì thế mà chúa Nguyễn đã cho phép Trần Thượng Xuyên lên khai khẩn vùng này trước tiên, và chẳng bao lâu sau đó vùng Đông Phố đã nghiễm nhiên trở thành thương cảng lớn bật nhất của xứ Đàng Trong. Trần Thượng Xuyên đã chiêu tập lưu dân khai khẩn đất hoang, đồng thời ông đã tạo điều kiện dễ dãi cho thương nhân đến đây trao đổi buôn bán... Vào thời đó các vùng Bà Rịa, Đồng Môn, Long Khánh, Tân Uyên, Giồng Ông Tố, Thủ Thiêm, Nhà Bè, Thủ Dầu Một, Lái Thiêu... là những vùng đông cư dân và kinh tế rất phồn thịnh. Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống Suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược. Công việc của Nguyễn Hữu Cảnh là định danh, phân ranh và đăng ký vào sổ bộ của Việt Nam những đất đai nào đã trực thuộc Việt Nam vào thời này. Trịnh Hoài Đức đã ghi lại trong Gia Định Thành Thông Chí như sau: “Quan Kinh Lược Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên; lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn. Mỗi dinh đặt chức lưu thủ, cai bộ và ký lục để cai trị.” Như vậy chính Nguyễn Hữu Cảnh đã xác lập và tuyên bố chủ quyền xứ Đàng Trong trên vùng đất Nam Kỳ này. Thời đó huyện Tân Bình, tức Sài Gòn bây giờ trực thuộc phủ Gia Định và Sài Gòn là lỵ sở của Gia Định. 

Sự Thành Lập Các Cộng Đồng Cư Dân Tại Miền Đông Nam Phần:

Theo các di tích khảo cổ từ thời Pháp thuộc thì vùng Sài Gòn Gia Định đã có nhiều bộ tộc cổ sinh sống tại đây từ rất xa xưa. Những tư liệu nghiên cứu về nhân chủng học ở thời kỳ văn hóa kim khí tại Đồng Bằng Miền Đông cho thấy cư dân của trung tâm kim khí nầy thuộc nhân chủng Mongoloid có nét nổi trội của các bộ tộc trong vùng Đông Nam Á (Indo-Melanésien), chứ không giống như người Mongoloid ở vùng Thái Bình Dương (Indonesien). Đây là những bộ tộc thiểu số vẫn còn tồn tại đến ngày nay như người Mạ, Stiêng và Khmer ở vùng biên giới Tây Ninh chạy dài xuống Mỹ Tho. Như vậy, ngay từ nhiều thế kỷ trước Tây lịch, vùng mà bây giờ chúng ta gọi là Sài Gòn Gia Định đã từng là một nơi quan trọng trong vùng, đã từng là mặt tiền của lưu vực của hai con sông Đồng Nai và Vàm Cỏ. Có lẽ chính những cư dân vùng nầy vào thời đó đã góp phần xây dựng nên nền văn hóa Óc Eo cũng không chừng. Tính đến nay, dầu chưa có bằng chứng xác đáng về mối quan hệ giữa các nền văn hóa miền Đông Nam Kỳ với các nền văn hóa khác tại Đông Nam Á, nhưng những dấu ấn của nền văn minh Ấn Độ mà chúng ta tìm thấy qua các di chỉ khảo cổ Óc Eo cũng đủ cho chúng ta thấy rằng vào những thế kỷ trước Tây lịch, các cư dân cổ trong vùng Đông Nam Phần có liên hệ với các cộng đồng cư dân khác chẳng những trong vùng Đông Nam Á, mà còn với các xứ Miến Điện, Tích Lan và Ấn Độ nữa.
Vào giữa thế kỷ thứ XVII, người Việt bắt đầu tràn xuống sống chung đụng hài hòa với các bộ tộc bản địa tại đây. Tuy nhiên, ít lâu sau đó vì sự khác biệt về phong tục tập quán nên đa số người Khmer trong vùng này rút dần về phía Tây Ninh, gần vùng biên giới Việt Miên, trong khi đó người Khmer trong vùng Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, và Châu Đốc vẫn tiếp tục sống hài hòa với người Việt và người Hoa. Người Mạ ở vùng Mô Xoài, mà người Việt chúng ta thường gọi họ là “Mọi Bà Rịa,” họ có tục cà răng căng tai, rất thạo nghề dệt vải có hoa văn rất đẹp. Theo nhà văn Bình Nguyên Lộc, trước khi người Chân Lạp làm chủ phần đất Nam Kỳ thì người Mạ sống trong vương quốc Phù Nam từ các vùng Đồng Nai xuống đến Mỹ Tho. Sau khi Chân Lạp sáp nhập vùng Thủy Chân Lạp vào lãnh thổ của họ, tuy phải triều cống Cao Miên mỗi năm, người Mạ vẫn là một kiểu tiểu quốc tự do, có tiểu vương Chê Mạ cai trị khắp vùng Tây Nam, trên lưu vực sông La Ngà, và về phía Bắc trên cao nguyên Di Linh và vùng Lâm Đồng. Người Mạ rất hiền lành nên thường bị người Khmer và người Stiêng bắt đem bán làm nô lệ khắp các nơi. Người Stiêng sinh sống tại các vùng Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa... Họ để tóc rất dài, bới đàng sau gáy, đeo bông tai, xăm mặt và xăm mình, đàn bà thường mặc váy, còn đàn ông đóng khố. Theo “Địa Chí Thủ Dầu Một” ấn hành năm 1910, người Pháp gọi người Stiêng bằng nhiều cái tên khác nhau như “Mọi Hoang,” hay “Mọi Cà Răng,” hay “Mọi Đồng Nai,” vân vân. Hiện tại bộ tộc Stiêng còn khoảng trên dưới 50 ngàn người, trong đó có khoảng 40 ngàn người sống rải rác trên các vùng Tây Ninh, Bình Dương, và Đồng Nai; số còn lại sống trên vùng phía nam cao nguyên Trung Phần. Trước thế kỷ thứ XVII, vùng Đồng Nai và Mô Xoài là vùng biên địa giữa hai vương quốc Chân Lạp và Chiêm Thành nên ngoại trừ hai dân tộc Mạ và Stiêng, vùng này hầu như không có dân cư Chiêm Thành hay Chân Lạp. Phần lớn đất đai ở vùng này là rừng rậm và đầm lầy hoang vu với vô số muông thú. Khi người Việt bắt đầu vào khai thác đất Thủy Chân Lạp thì các bộ tộc Mạ và Stiêng từ từ lui dần về phía Bắc với những vùng đất cao hơn.
Cho đến bây giờ người ta vẫn chưa tìm được chứng cớ lịch sử cho thấy lưu dân người Việt bắt đầu đi vào đất Đồng Nai-Mô Xoài từ lúc nào, có lẽ họ đã dong buồm xuôi Nam từ khi Nguyễn Hoàng mới vào trấn nhậm đất Thuận Hóa, hay có lẽ họ đã vào đây từ khi triều đại nhà Trần mới lên thay nhà Lý vào thế kỷ thứ XII, vì vào thời kỳ này, Trần Thủ Độ tìm cách tiêu diệt hết di thần nhà Lý, nên một số theo hoàng tử Lý Long Tường dong buồm về Bắc đến Cao Ly, còn một số khác dong buồm xuôi Nam, nhưng không thấy sách sử nào nói đến số di thần nhà Lý dong buồm xuôi Nam rồi đi về đâu. Tuy nhiên, theo Trịnh Hoài Đức trong “Gia Định Thành Thông Chí,” từ  đời “tiên hoàng đế,” tức là từ thời các chúa Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phước Nguyên, người Việt đã đến khai khẩn vùng Mô Xoài. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì Mô Xoài là vùng địa đầu của Biên Trấn, tức là vùng lưu dân người Việt đầu tiên đặt chân đến để khai phá và mở mang nước Việt về phương Nam. Tuy nhiên, mãi đến khi vua Miên là Chey Chetta II cưới nàng công nữ Ngọc Vạn, người Miên gọi là hoàng hậu Sam Đát vào năm 1620, thì lưu dân người Việt mới ào ạt tiến về phương Nam lập nghiệp. Theo hồi ký của giáo sĩ Christofo Borri, một giáo sĩ người Ý đã sống gần vùng Qui Nhơn từ năm 1618 đến năm 1622, chúa Nguyễn Phước Nguyên đã viện trợ cho vua Chân Lạp cả tàu thuyền lẫn binh lính để chống lại quân Xiêm La. Borri cũng diễn tả về phái đoàn của công nữ Ngọc Vạn đi Oudong như sau: “Sứ bộ gồm khá đông người, cả quan lẫn lính, vừa nam vừa nữ, chuyên chở trên những chiếc thuyền lớn có trang bị vũ khí và bày trí lộng lẫy. Khi sứ bộ tới Oudong thì dân chúng Khmer, thương nhân người Bồ, Nhật, Trung Hoa, đã tụ tập đông đảo để tiếp đón và hoan nghênh.” 
Vào hậu bán thế kỷ thứ XVII, cộng đồng người Hoa bài Thanh phục Minh theo chân Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên, được chúa Nguyễn cho vào vùng đất phương Nam khai khẩn các miền Đông Phố và Mỹ Tho. Tại đây những người Minh Hương nầy đã thành lập những cộng đồng người Hoa hết sức đặc sắc với những phố sá sầm uất. Tuy nhiên, sau khi quân Tây Sơn tảo thanh tàn quân Nguyễn Ánh năm 1776, vùng Đại Phố bị tàn phá vì thời đó người Hoa vùng này yểm trợ Nguyễn Ánh rất đắc lực. Sau khi Đông Phố bị đốt sạch, người Hoa chạy về vùng Bến Nghé và lập nên vùng Sài Gòn Chợ Lớn ngày nay. Đây là vùng đất cao nằm hai bên bờ sông Sài Gòn với nhiều sông rạch nối liền Thị Nghè (rạch Thị Nghè), Hóc Môn, Gò Vấp, Chợ Lớn... xuống tận Bình Điền, Bình Chánh, Gò Đen, Cần Đước, Cần Giuộc...

Thổ Sản Trên Những Cánh Đồng Miền Đông:

Miền Đông Nam Kỳ là một vùng đồi núi thấp, chạy dài từ biên giới Cam Bốt đến biển Đông, bắt đầu từ Tây Ninh, Bình Long, Phước Long, Long Khánh qua vùng Bình Dương, Đồng Nai, cho đến Bà Rịa, Vũng Tàu, có các con sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và sông Bé chảy qua. Miền Đông đất đỏ mang một nét đặc sắc riêng biệt, vì đây là vùng chuyển tiếp từ vùng rừng núi của cao nguyên Nam Trung Phần sang vùng đồng bằng sông nước miền Nam. Trên mười ngàn năm nay, vùng này được bồi đắp bởi phù sa đất đỏ của sông Đồng Nai lên vùng nham thạch cổ của một vùng núi lửa đã ngưng hoạt động từ lâu. Đây là vùng bạt ngàn những rừng cao su và những núi đồi ngút ngàn, bên cạnh những dòng sông đỏ ngầu phù sa. Vùng đất đỏ bụi mù về mùa nắng, và lầy lội về mùa mưa. Tuy đồng bằng Miền Đông không màu mỡ như đồng bằng Miền Tây nhưng so với các vùng Bình Thuận, Phú Yên, Khánh Hòa... thì vùng này vẫn phì nhiêu mầu mỡ hơn nhiều. Tại đây có rất nhiều nông sản nổi tiếng như lúa cuống chim, tám thơm, nàng yên, nàng thơm; các loại nếp thơm, nếp than cũng nổi tiếng không kém. Ngoài ra, miền Đông còn nổi tiếng với những vườn cây ăn trái như bưởi Biên Hòa, xoài, vú sữa, chuối, mít, đu đủ, ổi, chôm chôm, măng cụt, sầu riêng... ở các vùng Bún, Lái Thiêu, Bình Dương. Trái cây và rất nhiều nông sản được sản xuất lên Sài Gòn và các tỉnh miền Trung. Ngoài việc tưới tẩm ruộng vườn miền Đông, sông Đồng Nai còn là nguồn nước tiêu xài chính yếu cho cả miền Đồng Bằng Miền Đông, thủy đạo quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa khắp các tỉnh miền Đông. Dưới thời Pháp thuộc, miền Đông trở thành miền đất nổi tiếng với nhiều đồn điền, là vùng đất hứa cho nhiều lưu dân từ các miền khác của đất nước. Chẳng những trong thời Pháp thuộc, mà ngay từ lúc đầu mở cõi, vùng đất Đồng Nai và Gia Định là điểm tập trung lưu dân, trước khi bung ra các miền khác. Ngay từ thời kỳ đầu của cuộc Nam Tiến, vùng đồng bằng miền Đông là hậu phương lớn cho dân quân đi khai khẩn miền Tây. Ngoài nông sản, lâm sản, thủy và hải sản, miền Đông còn một nguồn tài nguyên dồi dào nhất miền Nam, đó là khoáng sản. Từ khi mở cõi về phương Nam, cả miền Nam chỉ trông mong vào khoáng sản của miền Đông cung cấp cho toàn bộ công tác kiến trúc và xây dựng. Bên cạnh nguồn đá xanh (granite) từ các núi Bà Đen, Chứa Chan, và Bà Rá, miền Đông còn là nơi sản xuất đủ các loại gạch ngói, cát, cũng như các vật liệu bằng đá ong.

Sự Phân Bố Dân Số Tại Miền Đông Trong Thời Cận Đại:

Về dân số, khi những lưu dân Việt Nam mới đặt chân vào đất Đồng Nai thì cư dân ở đây chỉ có khoảng vài ngàn người thuộc các sắc dân thiểu số. Sau khi tướng Trần Thượng Xuyên thành lập xong vùng Cù Lao Phố, thì khoảng 92 phần trăm là người Việt, người Hoa khoảng 6 phần trăm, còn lại khoảng 20 dân tộc thiểu số chiếm 2 phần trăm. Trong đó người Chơro có khoảng 10.000, người Chàm khoảng 6.500, người Khmer khoảng 5.000, người Gia Ray khoảng 2.500, nhưng người É đê chỉ khoảng non 100 người mà thôi. Có người cho rằng đợt người Hoa di cư trong đợt “Bài Thanh phục Minh” cùng thời với Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch thuở nào đã cưới vợ hay lấy chồng Việt Nam và đã bị đồng hóa thành người Việt hết rồi. Nói như vậy là không hiểu gì về bản chất sinh hoạt văn hóa của người Hoa. Cộng đồng người Hoa ở hải ngoại tự thuở giờ vẫn vậy, đàn ông có thể lấy vợ Việt Nam, chứ đàn bà ít khi nào chịu lấy chồng người Việt lắm. Hơn thế nữa, họ chỉ nói tiếng Việt khi phải giao tiếp với người Việt Nam mà thôi, còn tại nhà hay nói chuyện với nhau họ đều dùng tiếng mẹ đẻ mà nói. Hầu như địa phương nào có người Hoa là có các trường dạy tiếng Hoa mọc lên, mà thường thì các trường dạy tiếng Hoa lại lớn hơn các trường Việt. Chính vì thế mà người viết bài này dám đoan chắc rằng những người Hoa ở vùng Biên Hòa, Sài Gòn và Chợ Lớn hiện tại, đa phần là hậu duệ của các nhóm di thần nhà Minh chạy theo Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch năm xưa. Đến năm 1776, Cai Bộ phủ Gia Định là Hiến Đức Hầu Nguyễn Khoa Thuyên đã làm tờ cáo về triều về dân số vùng Nông Nại như sau: huyện Phước Long thuộc vùng Biên Trấn có hơn 250 thôn với tổng dân số lên tới 8.000 người, và huyện Tân Bình có hơn 350 thôn với tổng dân số hơn 15.000 người. Đến khi người Pháp chiếm Nam Kỳ, theo thống kê năm 1865, dân đinh tại ba tỉnh miền Đông là 35.778 người; đến năm 1866 tăng lên 39.369 người. Tuy nhiên, trong lúc người Pháp làm những thống kê nầy thì đa số cư dân Việt Nam đã tản cư về 3 tỉnh miền Tây, nên mãi đến khi người Pháp chiếm xong miền Nam vào năm 1867, thì thống kê toàn miền Nam có trên 477.000 người.
Về tôn giáo thì người miền Nam nói chung, người dân ở vùng Đồng Bằng Miền Đông nói riêng, rất hòa đồng với nhau bất kể niềm tin hay tín ngưỡng. Chính vì thế mà ở vùng này có sự hiện diện của rất nhiều tôn giáo từ Phật giáo, chiếm trên 80 phần trăm, Thiên chúa giáo, Cao đài, Hòa Hảo, vân vân. Đặc biệt, Tây Ninh là nơi sản sanh ra đạo Cao Đài. Hiện tại Thánh Thất Cao Đài Tây Ninh với một lối kiến trúc hoành tráng là biểu hiện thiêng liêng nhất cho các tín hữu Cao Đài khắp miền Nam. Riêng Thiên chúa giáo, dù đã được các cha cố người Bồ truyền bá vào Việt Nam từ thế kỷ XV, nhưng chỉ mới được du nhập vào miền Đông sau thời kỳ Pháp chiếm Nam Kỳ. Đặc biệt số tín đồ tại đây tăng lên đáng kể khi 2 triệu người di cư từ Bắc vào Nam trong năm 1954, với chánh sách của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đặc biệt nâng đỡ cho người theo đạo Gia Tô. Đạo Tin Lành phát triển mạnh sau thập niên 1960s.

Chú Thích:
(1) Vùng Bà Rịa và Vũng Tàu ngày nay.
(2) Đất đỏ.
(3) Theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì vương quốc Bà Lợi có lẽ là một vương quốc nhỏ nằm trong vùng Đồng Nai và Bà Rịa hiện nay.
(4) Nay là miền Tây Nam Việt.
(5) Vùng Đồng Nai và Bà Rịa ngày nay.
(6) Vùng Bà Rịa và Biên Hòa ngày nay.
(7) Cù lao Thạnh Hội.
(8) Lãnh thổ Việt Nam bao gồm một phần lớn lãnh thổ Hoa Nam, tức Quảng Đông và Quảng Tây, miền Bắc, và Bắc Trung Việt tới đèo Ngang.
(9) Lãnh thổ Chiêm Thành từ đèo Ngang đến đèo Cù Mông.
(10) Lãnh thổ Phù Nam trên phần đất Việt Nam ngày nay chạy dài từ đèo Cù Mông đến Kompong Som (Vũng Thơm, ngày nay thuộc Cao Miên). Tuy nhiên, về phía Tây, nó chạy dài đến Thái Lan và phía tây nam đến eo biển Malacca (ngày nay thuộc Mã Lai).
(11) Theo một bia ký tại làng Võ Cạnh gần Nha Trang.
(12) Vùng Sài Gòn-Chợ Lớn ngày nay.
(13) Nay thuộc tỉnh Svayrieng.
(14) Chưởi sau lưng người khác.
(15) Diện tích gấp hai lần diện tích vùng châu thổ sông Hồng, nhưng dân số lại chỉ bằng phân nửa, nên đây vẫn còn là một vùng đầy hứa hẹn trong công cuộc phát triển của đất nước.
(16) Đà Lạt.
(17) Khoảng 85 mét khối một giây.
(18) Nằm về phía Bắc tỉnh Bà Rịa.
(19) Thuộc vùng Hóc Môn.
(20) Cao hơn mực nước biển.
(21) Chùa Phụng Sơn, trong địa phận Sài Gòn.

Hết Phần Đồng Bằng Miền Đông.

Để tiện theo dõi "Đất Phương Nam 1", kính mời Quí Độc Giả mở Link bên dưới:
https://huynhhuuduc.blogspot.com/p/blog-page_53.html

***

Thứ Năm, 20 tháng 7, 2017

Dạ Sầu


Bài Thơ Xướng

            Dạ Sầu
 

Vò vò tơ sầu quạnh quẽ đêm
Lai rai mấy chén đã say mèm.
Nhẹ nhàng chiếc lá buông trên mái,
Lấp lánh sao khuya rụng trước thềm.
Tri kỷ người đi biền biệt mãi,
Mái đầu sương nhuộm não nề thêm.
Trăng tà chênh chéch gà eo óc,
Ngoài ngõ ai về nhẹ bước êm .

                            Mailoc
         ( Nhớ Quang Tuấn ) 7-7-17


Bài Thơ Hoạ


                Dạ Sầu

Một mình ngồi lặng dưới sương đêm
Nhớ chuyện ngày xưa dẫu cũ mèm
Có đứa thả hồn theo tiếng nhạc
Có thằng đắm nguyệt ngẩn bên thềm
Trước vì biến loạn đành ly tán
Nay đã yên bình lại nản thêm
Chả biết bạn bè còn được mấy
Lòng đầy khắc khoải chẳng hề êm
                                Quên Đi
***

Thứ Tư, 19 tháng 7, 2017

Sao Em Lại Nỡ..



Mới gặp em lòng đã ngẩn ngơ
Con tim dằn dặt nỗi mong chờ
Sóng tình anh dậy tràn tâm khảm
Hình dáng ai vào tận giấc mơ
Đôi câu bóng gió không thèm hiểu
Một tiếng tỏ tình cũng ngó lơ
Rằng anh tha thiết sao em lại
Ngoảnh mặt quay lung thật hững hờ
                               Quên Đi


Thứ Ba, 18 tháng 7, 2017

Lấy Của Người Giàu Chia Cho Người Nghèo



          Các nhà viết sử (?) , các nhà viết luận thuyết (?) sao mà ngu thế !!!

    Khi họ nói đến các đám giặc cướp , họ nói tụi này nêu lên khẩu hiệu : Lấy của người giầu chia cho người nghèo (?) . Trời hỡi ! Chia hồi nào ? Có bỏ túi thì có ! Nếu có chia thì chia cho lâu la … ! Đủ rồi ! Vì lâu la không phải là người nghèo sao ???

    Mà đâu có chia đều từng đồng (!) tụi lâu la này cướp được bao nhiêu ăn bấy nhiêu ! Có khi thằng lớn hoạnh họe thằng nhỏ : Sao tao thấy mày cướp được nhiều mà , sao cống nạp lên tao có bi nhiêu ?

    Sao lại đi tin những kẻ say máu … say chem. giết thế này ?  Sử là tấm gương soi ! Nhưng những vị trí thức này không biết soi ! Họ đã soi vào sau lưng tấm gương vậy !!!

    Thử điểm mặt những tên cướp Tầu và Việt từ Hoàng Sào tới hiện đại xem :  Những thằng lớn xông vào nhà quan , nhà giầu trước … lâu la xông vào nhà dân thường thôi ( nếu có người đẹp thì ông thủ lãnh chớp trước tiên ) .

    Đã gọi là cướp thì xông xáo , chém. Giết , tàn bạo thế nên mới gọi là loạn lạc , , loạn ly , bão bùng , binh hỏa , trần ai ! Không hiểu sao có một số người thích dùng ba chữ cướp chính quyền !  Nó tới san bằng người ta , rồi có lập nên một chính quyền mới đâu ? Dân chúng nào thưa gửi với cái chính quyền chẳng ra ngô chẳng ra khoai của tụi vô học này !  Ôi ! Nói ra thật mắc cỡ giùm cho loài người này ! Nó chia cho dân … rồi sau này … buồn tình … đòi lại .

    Trong một nước quá nghèo , quá đông , nghèo có hạng thế giới ,,, nghèo mạt rệp …  Mà có một ông tướng cướp “quá khùng “ đem chia cho dân nghèo thì mỗi người được mấy xu …  đem tiền đó mà đầu tư thì sướng hơn !

    Cái thằng Ba Tầu nó bóp cổ dân đen đến lè lưỡi ra , vắt cổ chày ra nước , mà nó có chia cho con cháu Nghiêu Thuấn đồng xu ten nào đâu !  Cái tiền vơ vét được đó đem vào Thẩm Quyến và các vùng mới ở Quảng Đông lập nên một vùng cực kỳ chướng mắt . Không ở đâu mà giầu nghèo quá chênh lệch như ở vùng này !!!

    Người Âu cho rằng họ lo cho người nghèo hơn các nơi khác . Nhưng họ đánh thuế người giầu rất nặng để chia tiền cho những người thất nghiệp , để những người này đeo ba lô đi khắp thế giới diễu chơi cho … thiên hạ biết mặt !  Nhiều tác giả thấy rằng cái an sinh xã hội này có vẻ quái đản … và có lẽ chẳng thọ đâu  !?

    Người Do Thái và người Nhật không thích cái an sinh xã hội hậu hĩnh của  châu Âu ! Nhưng Do thái là một đất nước không có ăn mày ! Và cái công xã nhân dân của nước này thật là tuyệt vời ! Người trong Công Xã sống rất hạnh phúc vì đầy đủ và thoải mái !  Còn Nhật thì nông dân khi thu hoạch mùa màng để lại vài chục phần trăm ruộng lúa cho chim … ăn chơi … để ngắm nhìn … mãn nguyện và … nghe chim hót hòa bình . Người Nhật có hô hào ầm ĩ , khẩu hiệu đầy đường … lo cho người nghèo đâu ! Thế mà nông dân Nhật sống hạnh phúc ít nơi bì kịp !
    Ở Việt Nam thì ngược lại : Người ta lấy của người nghèo chia cho người giầu . Nông dân bị thu hồi đất chia cho các quan để phân lô … xây biệt thự … kinh doanh … mời gọi ngoại quốc … !!!

    Tóm lại : Chia hay không chia ???
    Chia cũng dở mà không chia cũng dở.
    Chia đều thì khó ! Chia chác thì dễ mà chẳng ai khen !
    Phải đợi khi người dân ‎‎y thức về Nhân Quyền thì các thứ chia : Chia xôi thịt , nhà cửa ,vàng bạc , gái đẹp , quyền lực , danh hiệu … mới bớt đi !
    Ôi ! Cái cô Nhân Quyền này đỏng đảnh quá , mời mãi mà không chịu ghé nước tôi chơi !!!

Chân Diện Mục

                                                                                    

Thứ Hai, 17 tháng 7, 2017

Phượng Tím


             Phượng Tím
 

Phượng tím từng chùm trong nắng mai 
Mỏng manh, hiền dịu lẫn trang đài 
Như nàng trinh nữ duyên e ấp 
Tựa gái thuyền quyên nét cảm hoài 
Đồng Khánh tan trường...tà phất phới 
Gia Long vào hội ..vạt bay bay (*) 
Sắc hoa: màu áo, ngôi trường cũ 
Nỗi nhớ bao mùa chẳng nhạt phai.. 

(*) Màu tím là màu áo dài đồng phục của nữ sinh
Đồng Khánh ( Huế ) và Gia Long ( Saigon )
                                     Phương Hà  

***
       Nhớ Màu Hoa Tím
 

Đẩy xe bé dạo nắng ban mai 
Phượng tím đầy bông rợp tượng đài 
Nhớ lại mùa Hè miền đất lạnh 
Thương về Đà Lạt xứ hoa hoài 
Quê người thiếu nữ đầm xinh xắn   
Đất khách quý bà vạt áo bay 
Picnic: liên trường cô giáo cũ 
Hàn huyên tâm sự vẫn không phai...
                    Mai Xuân Thanh

***
     Phượng Tím Vào Hè

Nắng sớm đầu ngày buổi sớm mai
vào hè,phượng tím nở hoa đài
Lung linh cánh mỏng xinh màu áo
Lộng lẫy từng chùm đẹp gió lay
Lưu bút Gia Long thương mực tím
Trang thơ Đồng Khánh mến nhau hoài
Phượng buồn sắc tím khơi niềm nhớ
Trường củ tình xưa khó úa phai
                         Song Quang
                          vào hè 2017
***
       Màu Lưu Luyến


Ánh vàng rực rỡ buổi ban mai
Hoa của học sinh lộ sắc đài
Thắm đỏ phượng khoe màu kỷ niệm
Tiếng than ve gợi mối u hoài
Thầy cô thuở trước còn đâu bóng
Trường lớp năm nào tựa khói bay
Nhắc nhở mà chi thêm luyến tiếc
Một thời tươi đẹp khó mờ phai.
                         Quên Đi
***
      Một Loài Hoa Tím


Như hoa say nắng buổi ban mai
Xuân trĩu nhành khoe cánh nhụy đài
Ngõ sớm trời trong hồn sóng sánh
Mùa sang phượng tím sắc u hoài
Dáng huyền yểu điệu hài vang động
Tà vạt dịu dàng gió lượn bay
Hoa tím tôi yêu thời khát vọng
Mộng đầu ngày ấy chẳng phôi phai
                     Kim Phượng
***
        Hương Thời Gian



Ép màu phượng tím trỉu sương mai
Khóc thuở hoa son héo cả đài
Ngõ vắng tả tơi đời lịm chết
Lối xưa im ỉm dạ sầu hoài
 
Ngày lên thức giấc tình xa cách 
Đêm xuống ngủ vùi nghĩa vụt bay 
Đầy ấp hương yêu ân ái cũ
Theo dòng năm tháng chẳng hề phai…
                                Kim Oanh
***

Thứ Bảy, 15 tháng 7, 2017

Vui Cười 78


Hết Ðiên 


Tại bệnh viện tâm thần, bác sĩ nói với một bệnh nhân muốn xin về: 
- Ðược thôi, nếu anh thật sự khỏi bệnh. 
- Ồ! Em khỏi từ lâu rồi, thưa bác sĩ. 
- Vậy khi ra viện, anh sẽ làm gì ? 
- Em sẽ lấy ná thun bắn bể hết bóng đèn của bệnh viện. 
Bệnh nhân được nhốt lại. Một tháng sau, anh ta tiếp tục đòi về. Bác sĩ hỏi, câu trả lời vẫn như cũ.
Bệnh nhân lại được điều trị tiếp. Ba tháng sau, anh ta đòi về. Bác sĩ kiểm tra sự tỉnh táo của anh ta: 
- Ra khỏi bệnh viện, anh làm gì? 
- Dạ... em về nhà, thưa bác sĩ. 
- À, khá lắm! Rồi sao nữa? 
- Dạ, em tắm rửa thật sạch sẽ, hớt tóc, cạo râu đàng hoàng. 
- Tốt! Sau đó? 
- Dạ, em đi chơi phố, làm quen với một cô gái xinh đẹp. Em mời cô ấy đi ăn kem, nghe nhạc hoặc khiêu vũ... 
- Tuyệt vời! Anh hết bệnh thật rồi đấy. Nhưng sau khi khiêu vũ? 
- Dạ, em sẽ mời cô ấy về nhà, xin cô ấy cởi áo... 
- Anh quá lắm nhé! Nhưng cần phải giữ sức khỏe đấy, anh chỉ vừa mới hồi phục thôi đó nghe! 
- Bác sĩ đừng lo. Em đề nghị cô ấy cởi áo, rồi xin cái sợi dây thun của nịt ngực cô ấy để làm ná và em sẽ (anh ta gào lên)... sẽ bắn bể hết bóng đèn của bệnh viện. 

THƠ : NỖI LÒNG CỦA CHỒNG

Chiều chiều bìm bịp kêu chiều 
Lấy vợ thì cũng lấy liều mà thôi 
Ban ngày làm việc tả tơi
Ban đêm hầu vợ, phận tôi đêm trường
Nằm chung thì bảo...chật giường
Nằm riêng lại bảo...tơ vương em nào
Lãng mạn thì bảo...tào lao
Đứng đắn lại bảo...người sao hững hờ
Khù khờ thì bảo...giai tơ
Khôn lanh thì bảo...hái mơ bao lần
Cả đời cứ mãi phân vân
Tơ lòng con gái biết mần sao đây.:😪😪😪

(Nguyễn Thế Bình Sưu Tầm)

Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2017

Đất Phương Nam 1 (TT)- Phần 2 Đồng Bằng Miền Đông




Địa Lý Và Khí Hậu Của Đồng Bằng Miền Đông: 

Miền đất nầy là sự nối tiếp của các cao nguyên Bảo Lộc và Di Linh nên độ cao trung bình khoảng từ vài chục mét đến 200 mét, với những cao nguyên thấp và những đồi núi không cao lắm. Chúng ta có thể nói “Đồng Bằng Miền Đông” bao gồm các tỉnh Biên Hòa, Bình Dương, Bình Long, Phước Long, Tây Ninh, Gia Định, Sài Gòn, Chợ Lớn, Bà Rịa, Vũng Tàu, và một phần của tỉnh Hậu Nghĩa. Tổng diện tích của toàn vùng vào khoảng 23.467 cây số vuông và tổng dân số khoảng gần 9 triệu người(15). Sau năm 1975, chánh quyền Cộng Sản chia miền Đông Nam Phần ra làm 6 tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, và thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn). Phải nói nếu so với Đồng Bằng Sông Cửu Long thì Đồng Bằng Miền Đông có địa thế đất tương đối cao vì phần lớn đồng bằng nầy nằm trên vùng bình nguyên và đồng bằng, là vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Trung Phần đến đồng bằng sông Cửu Long và càng về miền Tây thì càng thấp dần nên miền Đông ít khi bị lũ lụt như miền Tây. Về phương diện cấu trúc địa chất, đồng bằng miền Đông so với Đồng Bằng sông Cửu Long thì khác hơn nhiều về mọi mặt. Thế đất miền Đông cao, phù sa cổ, và ít sông rạch, chỉ có một số suối ngắn, vào mùa mưa thì nước tràn bờ, nhưng vào mùa nắng thì khô cạn tới đáy. Từ Sài Gòn đi Tây Ninh người ta không thấy sông mà chỉ qua một con rạch với chiếc cầu không lớn lắm. Từ Sài Gòn đi Biên Hòa chỉ có con sông Đồng Nai, tuy có bề mặt rộng, nhưng nước chảy yếu và không có phù sa như dòng Cửu Long. Nói chung, đồng bằng Miền Đông chỉ có những con sông ngắn như sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Sài Gòn, và sông Bé. Ven các sông nầy, cũng có nhiều nơi thung lũng sông mở rộng thành những cánh đồng phì nhiêu, chẳng hạn như đồng bằng sông La Ngà, rộng trên 10 ngàn mẫu ở quận Hoài Đức, đồng bằng sông Bé rộng trên 20 ngàn mẫu ở phía Bắc tỉnh Bình Dương, và một số thung lũng khác nằm ven bờ sông Đồng Nai như vùng Cát Tiên và Lâm Đồng. 
Sông Đồng Nai là con sông chảy hoàn toàn trong lãnh thổ Việt Nam, chỉ dài khoảng 635 cây số, phát nguyên từ cao nguyên Lâm Viên(16), sau khi chảy qua cao nguyên Lâm Đồng thì chảy vào đồng bằng miền Đông. Lưu lượng nước sông Đồng Nai chỉ khoảng 485 mét khối một giây. Sông Đồng Nai có nhiều phụ lưu như sông La Ngà, sông Bé và sông Sài Gòn. Sông Đồng Nai chảy qua Biên Hòa và sau đó gặp sông Sài Gòn tại Nhà Bè, rồi đổ ra biển bằng nhiều cửa, trong đó có cửa Soài Rạp là lớn nhất. Trên sông Đồng Nai có hai công trình thủy điện là Đa Nhim và Trị An. Sông La Ngà bắt nguồn từ cao nguyên Trung Phần có độ cao khoảng 1.600 thước, là nhánh sông bên trái của sông Đồng Nai. Sông La Ngà chỉ có khả năng cung cấp nước cho một số quận huyện thuộc tỉnh Bình Thuận như Đức Linh, Tánh Linh và Hàm Thuận. Bên cạnh đó, trên sông La Ngà còn có hai công trình thủy điện Hàm Thuận và Đa Mi. Sông Sài Gòn phát xuất từ Thủ Dầu Một chảy qua Bình Dương rồi đổ vào sông Đồng Nai, gần Nhà Bè, với một lưu lượng nước rất nhỏ(17).
Về phía thượng lưu sông Sài Gòn, tại Tây Ninh, có hồ Dầu Tiếng, có diện tích khoảng 27 ngàn héc ta. Sông Bé là nhánh sông bên phải của sông Đồng Nai, phát nguyên từ cao nguyên M’nong, chảy qua Bình Long và Phước Long, dài khoảng 360 cây số và đổ vào sông Đồng Nai ngay phía Nam Trị An với lưu lượng nước khoảng 264 mét khối một giây. Có nhiều khúc sông người ta thấy mặt nước phẳng lì như mặt nước hồ thu không gợn sóng, thuyền ghe qua lại cũng rất ít so với hai con sông Tiền và Hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Dầu đồng bằng miền Đông Nam Phần có rất ít sông ngòi, nếu có cũng chỉ là những sông ngắn, thế nhưng nó không khô khan như vùng Tây Nguyên nằm sát nách nó, do bởi hệ thống nước ngầm từ các lòng sông cũ, cũng như những lỗ hỏng từ các khe nứt của lớp đá trầm tích, khiến nước từ dưới lòng đất có thể phun lên từ những nơi nầy và chảy len lỏi vào đồng ruộng. Riêng tại tỉnh Tây Ninh, với diện tích khoảng 4.000 cây số vuông mà vào cuối thế kỷ thứ XVI vẫn còn là khu rừng rậm hoang vu. Mãi đến thập niên 1940,
Tây Ninh vẫn còn trên 50% là rừng rậm. Lại nữa, cấu tạo đất đai của miền Đông cũng khác với miền Tây. Nền địa chất bên dưới là phần đá xanh (granit) cuối của dãy Trường Sơn, được phủ lên bởi nhiều lớp đá trầm tích trẻ, trong đó các trầm tích trẻ nhất thuộc niên đại Jura, bên trên cùng là lớp phù sa cổ trải rộng ra trên khắp bề mặt của toàn vùng, mà người bình dân gọi là “đất xám.” Miền Đông có cấu tạo nham thạch cổ đã biến chất thành đất đỏ nên rất thích hợp cho việc thiết lập các đồn điền cà phê và cao su, nhưng độ phì nhiêu lại kém hơn so với phù sa mới ở vùng châu thổ sông Cửu Long. Chính vì thế mà việc trồng lúa nước ở vùng này kém hơn vùng châu thổ sông Cửu Long rất nhiều. Và cũng chính vì thế mà có một khoảng thời gian khá lâu toàn vùng chìm đắm trong cơn khủng hoảng về trồng trọt, người ta không biết phải trồng loại cây gì cho hợp với loại đất xám này. Mãi đến khi người Pháp đặt chân đến Việt Nam họ mới khám phá ra loại đất xám này rất thích hợp cho các loại cây công nghệ như cao su, cà phê, ca cao, vân vân.
Thế là từ hơn 150 năm nay, vùng đất này trở thành cái nôi của những đồn điền trên những vùng đất đỏ chen lẫn đất xám. Bên cạnh đó, những khu rừng cao su rộng lớn nhưng rất ngay hàng thẳng lối khiến cho toàn miền có một sắc thái rất đặc biệt, nhất là khi chúng ta lái xe vào trên một con đường băng qua rừng. Loại phù sa cổ Đồng Nai làm cho chúng ta liên tưởng đến thềm lục địa của một con sông lớn, phải lớn hơn sông Đồng Nai nhiều. Chính vì vậy mà một nhà khảo cổ và địa chất người Pháp tên Saurin đã đặt ra giả thuyết rằng ngày trước cửa sông Cửu Long cũng đã từng nằm ở vùng này, hoặc giả có lúc nào đó sông Cửu Long đã từng chảy qua vùng này. Trong kỷ nguyên đệ tứ, vùng Đồng Nai được nâng cao lên cùng lúc với sự nâng cao của dãy Đậu Khấu bên Miên, đồng thời vùng trũng vịnh Óc Eo càng trở nên trũng hơn vì bị lún. Chính sự nâng cao đó mà phần chót của dãy Trường Sơn lại có những núi cao đến 500 mét. Trong các vùng của đỉnh núi lửa đã tắt có những núi tương đối cũng còn khá cao như núi Bà Đen ở Tây Ninh (cao 986 mét), núi Bà Rá (cao 736 mét), núi Chứa Chan (cao 838 mét). Đây cũng là những vùng có loại đất màu đỏ, chỉ thích hợp cho các loại cây cao su và cà phê mà thôi. Các nhà địa chất học đã tìm thấy dấu tích của những lòng sông cũ dưới dạng những hồ dài và những trũng nước đọng ở các vùng Hậu Nghĩa, Tây Ninh, Biên Hòa và Long Khánh. Người ta tin rằng các sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây và ngay cả những sông lớn hơn như sông Sài Gòn và Đồng Nai, sông Bé, sông La Ngà, vân vân cũng đang chảy trên các lòng sông cũ đó. Ngoài hai vùng đất xám và đất đỏ của Đồng Bằng Miền Đông, vùng châu thổ này còn có một vùng đất thấp với phù sa mới ở vùng châu thổ thủy triều của sông Đồng Nai.
Đó là khu rừng sát nằm dọc theo bờ biển miền Đông Nam Kỳ, tuy chỉ dài khoảng 100 cây số, nhưng trữ lượng hải sản lên đến 670.000 tấn, chiếm gần 40 phần trăm trữ lượng hải sản miền Nam. Miền Đông Nam Phần có khoảng trên 200 cây số biên giới với Cao Miên, mà về phía Việt Nam là các vùng Tây Ninh, Bình Dương, Bình Long và Phước Long giáp với các vùng Kompong Cham, Prey Veng và Svay Riêng của Cao Miên. Đây là khu vực cuối của dãy Trường Sơn nên hãy còn nhiều loại gỗ quý như trắc, cẩm lai, căm xe, cà chất, cũng như hãy còn lác đác những loại thú vùng Trường Sơn như voi, cọp, beo, heo rừng và bò rừng... Mãi đến cuối thế kỷ thứ XVI, miền Đông Nam Phần vẫn còn là vùng hoang địa với rừng rậm hoang vu. Nói đúng ra là từ khi vương quốc Phù Nam sụp đổ từ thế kỷ thứ VI, nghĩa là 10 thế kỷ sau, vùng nầy vẫn chỉ có một số rất ít người Mạ và Stiêng sống du canh du mục mà thôi. 

Đường lộ miền Đông Nam Kỳ

Ngày trước, Đồng Bằng Miền Đông là một vùng rộng lớn chạy dài từ phía Đông Bắc là vùng Mô Sài(18) đến phía Nam thành phố Sài Gòn Gia Định, phía Tây Bắc đến tận vùng Tây Ninh, và phía cực Bắc là các vùng Phước Long, Bình Long. Vùng nầy có địa hình đồi gò thuộc thềm phù sa cổ của sông Đồng Nai. Theo các di chỉ khảo cổ tại các vùng Rỏng Bàng(19), Bến Đò, Long Bửu, Hội Sơn thuộc quận 9 Sài Gòn, và Gò Cát thuộc quận 2 Sài Gòn, cách nay khoảng 3.000 năm đã có cư dân sống tại vùng nầy. Mãi đến ngày nay, khi nói đến miền Đông người ta liên tưởng ngay đến vùng Đồng Nai, một thời vang bóng với Cù Lao Phố năm xưa. Đây là một trong những thương cảng lớn nhất của Việt Nam thời bấy giờ. Theo truyền thuyết của dân tộc Mạ và Stiêng, thì vùng này sở dĩ có tên “Đồng Nai” vì dưới thời vương quốc Phù Nam, chưa có vùng đồng bằng sông Cửu Long, lúc đó bờ biển nằm khoảng vùng Óc Eo, thuộc Long Xuyên bây giờ, thì vùng Đồng Nai-Biên Hòa là một vùng đồng cỏ rộng lớn nhất trong khu vực.
Đặc biệt là cánh đồng cỏ này có rất nhiều nai lui tới ăn cỏ và uống nước. Thường thì nai hay sinh sống nơi các vùng đồi núi, dù không có đồng cỏ lớn, nhưng mùa khô vẫn còn nước để uống. Còn vào thế kỷ thứ VI, tại vùng mà chúng ta gọi là “Đồng Nai” bây giờ, mùa nào cũng có cỏ xanh và nước ngọt từ hai bên bờ sông hay từ các hố sâu, nên rất nhiều nai đã qui tụ về đây. Hiện nay vẫn còn một số địa danh nói lên dấu ấn rõ rệt thời đó, đó là những vùng “Hố Nai,” “Bàu Nai,” hay “Hóc Hươu” ở Biên Hòa. Vùng nầy có địa hình đồi gò dốc thoai thoải, lớp đất trên mặt có màu vàng đỏ hoặc màu xám phủ lên trên lớp trầm tích phù sa cổ, có độ cao trung bình từ 10 đến 25 thước(20). Càng chạy về phía Đông Nam thì địa thế của Đồng Bằng Miền Đông càng trở nên thấp trũng vì đây là vùng đồng bằng chưa hoàn chỉnh mà lại thường xuyên ngập mặn như các khu rừng Sác và Cần Giờ. Theo các di chỉ Giồng Phệt và Giồng Cá Vồ tại vùng Cần Giờ thì những mộ chum gốm đào được có niên đại từ 1.500 năm đến 2.500 năm. Như vậy con người xuất hiện tại vùng nầy sau các vùng Tây Ninh, Bình Long và Phước Long đến cả ngàn năm.
Riêng các vùng Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định ngày nay thuộc vào vùng có địa hình thấp chỉ mới được cấu tạo cách nay khoảng từ 10.000 đến 11.000 năm mà thôi. Đây là là vùng đất chuyển tiếp giữa hai thế đất phù sa cổ Đồng Nai và phù sa mới Cửu Long như các vùng có địa hình thấp chạy dài từ Hóc Môn xuống Cần Giờ. Ngoài ra, sự thành hình của toàn vùng mà ngày nay chúng ta gọi là Nam Phần Việt Nam chịu tác động trực tiếp của những đợt ‘biển tiến’ và ‘biển thoái’. Theo các nghiên cứu địa lý, nếu chỉ tính từ khoảng 13.000 năm trở lại đây thì ban đầu có một đợt mực nước biển hạ thấp nên toàn vùng đã được nối liền với quần đảo Côn Sơn. Sau đó, cách nay khoảng từ 10.000 đến 6.000 năm, nước biển lại dâng cao với tốc độ nhanh, nên bờ biển thời đó lấn sâu đến tận phía Nam Sài Gòn như các vùng Long An, Mỹ Tho và Đồng Tháp Mười. Đến thời kỳ cách nay khoảng từ 3.000 đến 4.000 năm thì mực nước biển hạ thấp khoảng 2 mét, nên các vùng bấy lâu nay bị ngập nước đang dần trồi lên, lại được sự bồ đắp của phù sa mới từ sông Cửu Long, và kể từ đó đến nay vùng nầy cũng như các vùng ven biển khác của miền Nam luôn được tiếp tục bồi đắp. 
Trước khi Sài Gòn được khai sanh thì vùng Cù Lao Phố đã là một vùng trù phú thịnh vượng, với sự buôn bán tấp nập của các thương thuyền từ khắp các nước Đông Nam Á, Ấn Độ, Hòa Lan, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha... Lúc đó Cù Lao Phố với đất rộng người thưa, lại thêm lâm sản dồi dào và đồng ruộng bao la nên lúa gạo lúc nào cũng thặng dư để xuất cảng ra nước ngoài. Ngoài ra, còn các nguồn tài nguyên khác như mía và bông vải được bán sang Ấn Độ. Khi bắt đầu công cuộc khai phá đất miền Đông các Chúa Nguyễn đã mộ dân phu từ các tỉnh Thuận Quảng từ miền Trung vào để thành lập hệ thống dinh điền theo phương hướng “Hễ có biến động thì làm lính, tới lúc bình an thì làm dân khai khẩn đất hoang.” Như vậy trong những ngày đầu mở đất về phương Nam các chúa đã rất khôn khéo trong việc vừa khai khẩn, vừa bình định và vừa sản xuất. Sau khi người Pháp chiếm Việt Nam, họ đã sớm nhận ra tiềm năng của vùng đất có loại phù sa cổ này nên chẳng bao lâu sau đó họ đã biến toàn bộ phía Bắc của Đồng Bằng Miền Đông thành ra những đồn điền cà phê và cao su với tổng sản lượng xuất cảng đứng nhứt nhì vùng Đông Nam Á. Họ đã mộ phu đồn điền từ các tỉnh phía Bắc, dùng lao động của dân bản địa nhằm biến các vùng rừng thiêng nước độc thành ra những đồn điền trù phú nhất nước. Lịch sử khai mở các đồn điền miền Đông đã đẫm không biết bao nhiêu là máu xương của người Việt Nam chúng ta để làm lợi cho bọn chủ đồn điền thực dân này. Khi Đồng Bằng sông Cửu Long đã được khai khẩn thành khoảnh và lưu dân từ các miền Thuận Quảng đến đó đã ăn nên làm ra thì dân cố cựu vùng Đồng Nai cũng quyết bám trụ chứ không chịu bỏ miền Đông dời đi lập nghiệp. Ngày nay, đồng bằng miền Đông đã khởi sắc hẳn lên với khu công nghiệp Biên Hòa nằm trên xa lộ Sài Gòn Biên Hòa. 
Hai con sông lớn đã tạo nên Đồng Bằng Miền Đông là sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Sông Sài Gòn chảy ngang qua Gia Định trước khi đổ ra biển. Sông Đồng Nai chảy ngang qua tỉnh Biên Hòa. Sau đó hai dòng sông này cùng chảy vào sông Nhà Bè nên từ xưa đã có câu hò vè: 
“Nhà Bè nước chảy chia hai Ai về Gia Định Đồng Nai thì về.” 
Kỳ thật không phải sông nhà bè chia làm hai nhánh để chảy chia hai, mà sông Nhà Bè chính là sông Đồng Nai khúc chảy ngang qua khu vực Nhà Bè, có một chi lưu nhỏ là sông Lòng Tảo, còn sông Đồng Nai tiếp tục chảy xuống phía Nam rồi đổ ra biển Đông bằng cửa Xoài Rạp. Ở đây mỗi con nước lớn có hiện tượng nước chảy ngược (một từ phía sông Lòng Tảo, và một từ phía sông Nhà Bè) tức hai ngã: một ngả chảy xuống phía Nam để gặp chỗ giáp nước, còn một ngả xuôi dòng về đất Gia Định. Phải chăng cô lái đò hay cô thôn nữ vùng Đồng Nai Gia Định đang phân vân trước ngả rẽ cuộc đời, hay cô đang rủ rê ai đó về Gia Định Đồng Nai với cô? Khi nói tới Gia Định, người ta cứ tưởng vùng Gia Định là vùng đất thuộc đồng bằng miền Đông. Vâng, đất Gia Định luôn được xem như là một phần đất của những tỉnh miền Đông. Ngay thời đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa, vùng Sài Gòn Gia Định cũng được xem như trực thuộc quân đoàn III, quân khu III. Tuy nhiên, nếu nói theo địa chất học, thì vùng Gia Định có cách cấu tạo đất của vùng 2 sông Vàm Cỏ, hay vùng đồng bằng sông Cửu Long. 
Vì vậy khi ông bà chúng ta đặt ra 2 câu vè trên, thì câu sau “ai về Gia Định Đồng Nai thì về,” ngụ ý nói ai muốn về vùng đồng bằng sông Cửu Long hay về vùng đồng bằng miền Đông thì cứ tự nhiên rẽ theo dòng nước Nhà Bè mà về. Về phương diện địa chất, vùng Sài Gòn Gia Định có thể được chia làm ba khu vực: Khu vực đồi gò thấp ở vùng Củ Chi, có đất màu vàng đỏ. Khu vực tiếp giáp vùng đồi gò ngay phía Đông Nam vùng Củ Chi là vùng đồng bằng do phù sa mới tạo thành, có địa hình bằng phẳng, nhưng đất vẫn còn trũng phèn như các vùng Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè và một phần của vùng Cần Giờ. Vùng thứ ba là vùng phù sa đang phát triển, nằm về phía Đông Nam của Cần Giờ. Đất đai vùng nầy trũng và thấp, đa phần ngập mặn, điển hình là khu rừng Sác. Khu rừng Sác tại Cần Giờ cũng giống như một bán đảo bị cắt ra khỏi đất liền bởi những con sông lớn, về phía Bắc thì có các sông Nhà Bè và sông Lòng Tàu, và về phía Đông thì có các sông Đồng Tranh và sông Soài Rạp. Trong lòng khu rừng Sác lại có nhiều giồng, tuy nhiên, tại đây thủy triều lên xuống ngày hai lần khiến cho các giồng nầy luôn bị cô lập như những cồn nhỏ, chỉ đi lại được bằng những xuồng nhỏ mà thôi. Toàn bộ vùng nầy nằm trong khu khí hậu tương đối điều hòa, ít có sự thay đổi đột ngột, và ít có thiên tai lũ lụt. Dầu có nhiều mưa với lượng nước dồi dào, trung bình khoảng từ 1.500 đến 2.000 mili lít mỗi năm, nhưng vấn đề lớn khác khiến cho việc sinh sống và khai khẩn vùng rừng Sác trở nên vô cùng khó khăn vẫn là việc khan hiếm nước ngọt. Tại đây không có tầng nước ngầm, lại thêm mùa mưa thường đến trễ và chấm dứt sớm hơn các vùng khác nên lượng nước mưa rất ít. Thêm vào đó, dù sông Đồng Nai là một con sông lớn và có trữ lượng nước khá lớn nhưng vẫn không đủ cung cấp cho sinh hoạt công nghiệp cho một vùng đất đang trên đà phát triển về công nghiệp rất mạnh. Tuy nhiên, chính con sông nầy đã cung cấp thủy điện trên 10 tỷ KW giờ cho toàn vùng. 

Đồng Bằng Miền Đông, Với Hai Nền Văn Hóa Sa Huỳnh Và Óc Eo:

Ai trong chúng ta cũng đều biết rằng vùng Mô Xoài-Bà Rịa cũng như toàn thể miền Đông Nam Phần không những gắn liền với vùng Tây Nguyên về mặt địa chất, mà hai vùng nầy cũng có quan hệ mật thiết với nhau về mặt nhân chủng; tuy nhiên, cho đến nay, bằng chứng về mối quan hệ giữa hai khu vực nầy trong thời tiền sử vẫn còn nằm yên dưới lòng đất, chứ chưa được các nhà khảo cổ học khai quật bao nhiêu. Tại khu vực Hóc Môn Bà Điểm, nay là 2 quận Hóc Môn và quận 12, người ta đã tìm thấy hai di chỉ khảo cổ tại Gò Sao và Rỏng Bàng. Tại khu Gò Sao nằm trong phạm vi quận 12, trên một khu đất xám thuộc phù sa cổ có lẫn lộn nhiều sạn sỏi, người ta đã tìm thấy nhiều dụng cụ bằng đá như rìu, cuốc, đục, vân vân, có niên đại từ 3.000 đến 3.500 năm. Khu Rỏng Bàng, một gò đất có độ cao khoảng 6 mét, với triền dốc thoai thoải từ vùng phù sa cũ xuống vùng phù sa mới, nằm trong phạm vi quận Hóc Môn. Tại đây người ta đã tìm thấy nhiều vật dụng như rìu, đục, một số mũi tên và dao bằng đá cũng có niên đại từ khoảng 3.000 đến 3.500 năm. Riêng tại vùng trường đua Phú Thọ, qua những không ảnh chụp vào khoảng thập niên 1930, nhà khảo cổ học L. Malleret cho rằng có dấu vết của một khu cư trú cổ rộng lớn, gồm những đường thẳng đan chéo hình bàn cờ giống như những con đường của một thành phố. Tuy nhiên, mãi đến ngày nay vẫn chưa có sự khám phá mới nào về vùng nầy. Vùng thấp phù sa mầu mỡ dọc theo bờ sông Sài Gòn chạy ra đến biển, vùng này sản xuất lúa gạo cũng như thủy sản và hải sản, tuy nhiên hãy còn rất nhiều đầm lầy hoang vu gần biển chưa được khai khẩn. Vào khoảng tháng 4 năm 1977, dân vùng kinh tế mới Lê Minh Xuân, thuộc quận Bình Chánh, đã phát hiện một số cọc gỗ, thiết kế theo kiểu nhà sàn và nhiều mảnh vụn đồ gốm, được các nhà khảo cổ xác định là có niên đại khoảng 2.500 năm, nghĩa là có trước nền văn hóa Óc Eo của vương quốc Phù Nam. 
Riêng tại Cần Giờ, thuộc vùng sinh thái ngập mặn, vào nửa thiên niên kỷ thứ nhất đã hình thành nên một nền văn hóa mới, đó là văn hóa Giồng Phệt. Dựa trên những di chỉ, đồ gốm sứ và mộ táng khai quật mới đây, người ta có đủ bằng chứng để nói rằng nền văn hóa nầy thể hiện sự hội tụ nhiều yếu tố của văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai. Cũng tại Cần Giờ, người ta đã cũng tìm thấy nhiều di chỉ khảo cổ có niên đại từ 1.500 năm đến 2.000 năm, tức là thuộc nền văn hóa Óc Eo. Nhất là tại Giồng Am, người ta tìm thấy nhiều di chỉ có niên đại thế kỷ thứ IV hoặc thứ V, gồm những đồ gốm sứ và những viên gạch hình thang, những thỏi đất nung hình trụ vuông, có đầu thon vẹt, những chai gốm thân dài, đáy tròn, mép miệng cuộn tròn, màu đỏ, trên thân có hoa văn in những đường nét thô có hình xương cá. Đây là một trong những di tích độc đáo của nền văn hóa Óc Eo. Tại đây người ta đào được tại Chùa Gò(21) những viên gạch lớn, những mảnh gốm Óc Eo, mảnh miệng bình, hũ, vòi và nấp ấm. Đặc biệt có những tượng hình đầu người bằng đất nung với khuôn mặt tròn, gò má rộng, môi dầy. Nói tóm lại, đa số các di chỉ tìm thấy trong vùng Cần Giờ đều thuộc nền văn hóa Óc Eo, thuộc loại văn hóa vùng ven biển của cộng đồng cư dân sinh sống trên các giồng và gò ven các sông rạch gần biển. Qua những phát hiện tại Giồng Phệt cũng như tại Giồng Am, chúng ta có thể đi đến kết luận sơ khởi rằng văn hóa Giồng Phệt là một trong những con đường Tiền Óc Eo ở khu vực ven biển Đông bên cạnh các di tích Tiền Óc Eo khác dọc theo lưu vực sông Vàm Cỏ như Gò Cao Su, Gò Ô Chùa ở Long An, và lưu vực sông Cửu Long như Gò Cây Tùng ở An Giang.

Hết Phần 2
Để tiện theo dõi "Đất Phương Nam 1", kính mời Quí Độc Giả mở Link bên dưới:
https://huynhhuuduc.blogspot.com/p/blog-page_53.html
***

Thứ Năm, 13 tháng 7, 2017

Tiếng Mưa Đêm


Lao xao giọt nước rơi
Nhung nhớ bóng bên trời
Mưa về trên hẻm vắng
Đọng nỗi buồn chơi vơi
               Gió hạ lướt lay rèm
               Khơi lời thơ anh dệt
               Mối tơ lòng anh kết
               Cảm xúc bởi tình em
Bên rèm thao thức nhớ
Cuộc tình từng chớm nở
Như hoa điểm sắc đời
Như hồn đến cõi mơ
               Đêm dài thêm hiu quạnh
               Ôi cuộc tình mong manh
               Sao mãi còn lắng đọng
               Sâu trong đáy tim anh
Mưa vẫn rớt bên thềm
Sóng lòng chẳng dịu êm
Nhịp tình như vội vã
Cho tình càng dày thêm
               Gió Nam lại trở về
               Kéo buồn dài lê thê
               Tiếng thằn lằn tặc lưỡi
               Làm sao tỉnh cơn mê...?
                                 Quên Đi