Thứ Ba, 17 tháng 1, 2017

Giúp ​Não Minh Mẫn Tới ...Già


Các nghiên cứu khoa học ngày nay cho thấy rằng có nhiều cách để não luôn ở trong trạng thái tốt nhất có thể tránh mắc bệnh suy giảm trí nhớ do gene di truyền. Tập luyện thành thói quen đều đặn, trau dồi thường xuyên 19 cách cơ bản dưới đây là những yếu tố giúp bạn duy trì khả năng tư duy sắc bén suốt đời.

Một số nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng gene có thể quyết định con người có mắc bệnh suy giảm trí nhớ hay không. Nhưng các nhà khoa học của Đại học California (Mỹ) khẳng định rằng chúng ta có thể tìm ra nhiều cách để não luôn ở trong trạng thái tốt nhất. Họ đã kiểm tra khả năng nhận thức của 2.500 người trong độ tuổi 70-79 trong suốt 8 năm.

Chức năng não của hơn một nửa đối tượng nghiên cứu suy giảm do tuổi già, 16% bị suy giảm đáng kể trí nhớ và khả năng tư duy trong giai đoạn nghiên cứu. Song điều đáng chú ý là 30% người tham gia vẫn duy trì khả năng hoạt động thần kinh ở mức ổn định.

Sau đó các nhà khoa học tìm hiểu xem những yếu tố nào tạo nên sự khác biệt trên. Kết quả cho thấy tập luyện thể thao, học tập, thói quen hút thuốc và hoạt động xã hội đóng vai trò then chốt. Nhóm nghiên cứu nhận thấy những người tập thể dục từ mức độ trung bình trở lên ít nhất một lần/tuần có cơ hội duy trì trí óc minh mẫn cao hơn 30% so với những người không tập bao giờ hoặc tập không thường xuyên.

Những người học tới trình độ phổ thông trung học trở lên có khả năng duy trì khả năng nhận thức ở mức ổn định cao gấp 3 lần so với người có học vấn thấp hơn. Sự khác biệt càng tăng lên nếu người có học vấn cao liên tục trau dồi tri thức (như khám phá lĩnh vực mới, học thêm ngoại ngữ).

1/. Thói quen hút thuốc.
Hút thuốc làm giảm khả năng nhận thức của chúng ta, bởi người không hút thuốc có khả năng tư duy sắc bén gấp hai lần so với người nghiện thuốc khi về già. Một số hoạt động xã hội cũng tốt cho não. Nhóm nghiên cứu nhận thấy những cá nhân thích tham gia hoạt động xã hội có khả năng duy trì tư duy sắc bén cao hơn 24% so với người khác.

"Việc tìm ra những yếu tố liên quan tới khả năng duy trì nhận thức có thể giúp con người tìm ra những chiến lược hiệu quả trong nỗ lực ngăn chặn tình trạng suy giảm trí nhớ. Chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi một số yếu tố, như luyện tập thể thao và hút thuốc", Alexandra Fiocco, trưởng nhóm nghiên cứu, phát biểu.
Nhiều nghiên cứu trước đây cũng chứng minh rằng, khi con người tập luyện, cơ thể chúng ta sẽ tiết ra một số nhân tố tăng trưởng. Những nhân tố tăng trưởng ấy làm tăng khả năng hoạt động của tế bào thần kinh.

2/. Tập thể dục.
Là cách tự nhiên giúp tăng sức mạnh cho não bộ của bạn và thậm chí tạo ra tế bào thần kinh mới trong não. Tập thể dục thường xuyên cũng ngăn ngừa việc suy giảm nhận thức và giúp bạn tránh khỏi các vấn đề sức khỏe tâm thần.

Các nghiên cứu cho thấy rằng nhảy, khiêu vũ cải thiện chức năng não của bạn. Trong khi đó, yoga không chỉ giúp cải thiện tâm trạng và khả năng tập trung của bạn, nó cũng tăng cường nhận thức của bạn và ngăn ngừa việc suy giảm nhận thức.
Bên cạnh đó những thói quen nhỏ dưới đây cũng giúp bộ não phát triển các chức năng tốt hơn, ngăn chặn suy giảm nhận thức.

3/. Vẽ.
Hầu hết chúng ta có xu hướng nghĩ rằng các bản vẽ như 1 hoạt động chỉ dành cho trẻ em, nhưng nó thực sự khá hữu ích cho người lớn. Vẽ tranh kích thích bán cầu não phải của bạn và tăng cường sự sáng tạo của bạn.

4/. Uống dầu cá.
Dầu cá có chứa nhiều thành phần xây dựng màng não của bạn. Uống nó thường xuyên giúp cải thiện sự tập trung, tăng cường các trung tâm cảm xúc của bộ não và làm tăng chức năng não bộ tổng thể của bạn.

5/. Ăn các loại hạt.
Các nghiên cứu đã chứng minh rằng ăn các loại hạt cải thiện chức năng não đáng kể, đến mức mà những sinh viên ăn chúng ngay trước khi kỳ thi sẽ làm bài tốt hơn nhiều so với những người không ăn.

6/. Hít thở sâu.
Đi ra ngoài 10-15 phút mỗi ngày để ngồi và hít thở sâu, tăng lượng oxy cho não.

7/. Tránh ăn vặt.
Thức ăn nhanh làm giảm năng lượng của bạn và làm cho tâm trí bạn trở nên mơ hồ. Để cải thiện chức năng bộ não, hãy tránh xa đồ ăn vặt và bắt đầu ăn các bữa ăn lành mạnh thay thế.

8/. Tranh luận.
Việc tranh luận khiến bạn phải suy nghĩ nhanh chóng và thông minh, suy nghĩ đến các tình huống khác nhau. Nhận được vào một lập luận tinh thần hoặc tranh luận một lần trong một thời gian để có được các loại nước chảy của bạn.

9/. Nghe nhạc.
Các nghiên cứu đã chứng minh rằng những người nghe nhạc thường xuyên thông minh hơn và nhiều cảm xúc tích cực hơn so với những người không nghe. Điều này là do âm nhạc kích thích bán cầu não phải của bạn và thậm chí thay đổi cấu trúc của nó.
Đặc biệt, nghe nhạc cổ điển phương Tây có thể cải thiện khả năng toán học, kích thích bán cầu não trái của bạn. Trong thực tế, các nghiên cứu đã chỉ ra nghe Mozart có thể cải thiện 80% trí tuệ.

10/. Thay đổi thói quen của bạn.
Khi bạn gặp khó khăn trong cùng một thói quen, não của bạn trở nên buồn tẻ và thiếu sáng tạo. Để kích thích nó, cố gắng thay đổi thói quen thường xuyên như tìm những cách khác nhau để làm việc hoặc cố gắng có 1 bữa ăn mới.

11/. Suy nghĩ tích cực, tránh căng thẳng.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người có suy nghĩ tích cực (khách quan, thiện hảo …) có điện não tốt hơn so với những người có suy nghĩ tiêu cực (chủ quan, bất thiện …). Hãy dành một chút thời gian mỗi ngày để suy nghĩ tích cực và đặt mục tiêu cho chính mình, kể từ khi lập mục tiêu cũng kích hoạt 1 phần của bộ não của bạn cũng được tham gia với tư duy tích cực.
Trong khi bạn không thể tránh căng thẳng hoàn toàn, hãy cố gắng giữ mức độ căng thẳng đừng quá cao, vì cortisol - hormone stress gây trở ngại cho chức năng não và giết chết các tế bào não của bạn.

12/. Ngủ đủ.
Ngủ cải thiện trí nhớ của bạn, không ngủ đủ giấc có thể làm cho bạn hay quên và chậm chạp.

13/. Cười thường xuyên, khóc.
Tiếng cười không chỉ kích thích sự giải phóng các endorphin, nó cũng làm giảm căng thẳng và làm giảm đau, giúp não của bạn hoạt động tốt hơn nhiều.
Bên cạnh đó, khóc cũng làm tăng chức năng não vì nó giúp việc lưu thông máu đến não của bạn tốt hơn. Nó giải phóng cảm xúc và giúp não tỉnh táo.

14/. Giải các ô chữ, câu đố.
Câu đố ô chữ nâng cao kỹ năng tư duy của bạn và khả năng để nhớ lại những kỷ niệm. Chúng hoạt động hoàn hảo để kích thích trí não. Bạn có thể chơi ô chữ hoặc giải câu đố cũng có tác dụng tương tự.

15/. Đọc sách, học 1 ngôn ngữ mới.
Đọc sách dạy bộ não của bạn hấp thu rất nhiều thông tin cùng 1 lúc, trong khi đó còn cải thiện trí nhớ của bạn, kỹ năng tư duy phê phán và từ vựng.
Bên cạnh đó, học 1 ngôn ngữ mới cũng giúp kích thích não bạn suy nghĩ, tư duy.

16/. Tránh uống nhiều thuốc.

Thuốc cản trở chức năng bộ não của bạn và tiêu diệt các tế bào não của bạn. Trong thực tế, các loại thuốc khác nhau có tác dụng khác nhau, bao gồm từ chảy máu não và làm thần kinh suy yếu và các tế bào não bị hư hại.

17/. Đừng xem ti vi quá nhiều.

Xem truyền hình 1 chút thì khá tốt nhưng tránh xem quá nhiều vì sẽ khiến não của bạn khó chịu, làm chậm lại sóng não và khiến chức năng não tồi tệ hơn.

18/. Đặt câu hỏi.
Hãy tạo thói quen đặt câu hỏi về những điều bạn không hiểu và yêu cầu những người khác về những suy nghĩ của họ về 1 vấn đề cụ thể. Điều này sẽ đặt bạn vào những ý tưởng khác nhau và quá trình suy nghĩ, kích thích suy nghĩ của riêng bạn

Yên Đỗ Sưu tầm
(theo longhovinhlong.blogspot.com)

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2017

Đau Khớp Gối !


Bài Thơ Xướng

       Đau Khớp Gối !

Sáng nay đầu gối chuyện gì đây?
Sao đạp xe nghe sượng thế nầy?
Cơm lạt tương cà ngon bữa nuốt
Đêm dài giấc điệp rộng đường bay
Dù mang bộ vó Tôn Hành Giả
Chửa mượn ba ton Lý Thiết Quài
Thuốc rượu gia truyền ta cứ vỗ

Rồi đi đóng thọ giúp người đai !
                     Cao Linh Tử
                       20/10/2016
Các Bài Thơ Hoạ

        Đau Nhức

Già rồi đau nhức chuyện thường đây
Chẳng có than van cái khổ nầy .
Ghế đá chân run tìm chỗ nghỉ
Công viên nắng ấm ngắm vàng bay .
Vai oằn túi nặng không thèm xách
Lưng ngứa tay đơ thật khó quài (*)
Đất khách thời gian trôi lẹ quá !
Bạn bè tuổi hạc cứ lần đai ( die).

                                       Mailoc
                                       11-7-16
(*)quài : vươn tay ra, duổi tay ra để với :quài tay ra sau
 
***
       CHỐNG GẬY
 
Ai hỏi đau chi chống gậy đây ?
Dáng đi nhăn nhó khó khăn này ?
Vói vô lấy nước bình hơi nặng,
Nên nhói bên hông cốc nhẹ bay.
Thể dục, biếng lười nghe nhức mỏi,
Khom lưng uể oải khó tay quài.
Cháu, con cũng bận không người rãnh,
Đành ráng chịu đau chắc phải đai !

                 Mai Xuân Thanh
***
          Lẽ Thường

Vừa mới giật mình: nhói ở đây
Thì đà lan tỏa khắp thân nầy
Lỏng le xương cốt, xô là ngã
Teo tóp thân hình, thổi muốn bay
Đã hết cái thời cơm nửa thúng
Xa rồi lứa tuổi chuối nguyên quài
Nhưng thôi, già cả ai không thế
Ấy lẽ vô thường: sinh- lão- đai. (*)
                        Phương Hà
(*)Đai = die ( tiếng Anh ) nghĩa là chết
***
        Chịu Thôi
                    Hoạ Tá Vận (*)

Ngơi nghỉ vừa xong mở máy đây
Email Bạn gởi ngập trang này
Câu từ văn vẻ thơ mời hoạ
Ý tứ thâm trầm thoát tục bay
Cố nghĩ tâm trung tìm chữ đáp
Không ngờ thi đối vướng tên Quài
Nên đành gác bút chào thua vậy
Gặp tử vận rồi phải chịu đai.
                              Quên Đi

(*) Xin thứ lỗi vì mình không tìm được tên người nào có chữ "Quài", nên đành Tá Vận.

***

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2017

Luật Thơ Lục Bát và Song Thất Lục Bát - Phần Bổ Sung

 
Nhân có anh Bạn nêu ý kiến: Thơ Lục Bát không hề có gieo vần Trắc. Đó chỉ là Lục Bát biến thể mà thôi.

Để trả lời ý kiến trên, cũng như tìm hiểu rõ hơn về thơ Lục Bát, tôi xin bổ sung thêm cho bài viết về Luật thơ Lục Bát và Song Thất Lục Bát của mình trước đây :

Thơ Lục Bát Vần Trắc không phải là Lục Bát Biến Thể, mà là Thơ Lục Bát Chính Thể.

Các nhà Nghiên Cứu đã xác nhận thơ Lục Bát có gieo Vần Trắc. Điển hình là Giáo Sư Dương Quảng Hàm, khi dẫn chứng Thơ Lục Bát Chính Thể, Ông đã lấy một bài Ca Dao gieo Vần Trắc để thí dụ (trang 12 quyển Việt Nam Văn Học Sử Yếu).


1- Thơ Lục Bát

Trước hết, chúng ta phải xác định Thơ Lục Bát là thể thơ gì? Nói cách khác là Định Nghĩa Thơ Lục Bát.
Thể thơ Lục Bát là một dạng Thơ trong Ca dao. Số câu trong bài thơ chỉ có câu 6 chữ và câu 8 chữ nối tiếp nhau. Được gieo vần Bằng hoặc Trắc. Cách gieo Vần của thơ Lục Bát cũng khác hẳn các loại thơ khác, sử dụng cách gieo vần Cuối Câu và Giữa Câu. Các Vần được gieo vào vị trí các chữ thứ 4; thứ 6 và thứ 8 trong câu.( điều này thể hiện rất rõ trong Quyển "Việt Nam Văn Học Sử Yếu" của Dương Quảng Hàm nơi trang: 12-14).

- Gieo vần ở chữ thứ 4 trong câu:

...Thùng thùng trống đánh ngũ liên,
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa...

- Gieo Vần Trắc

...Ước gì anh lấy được nàng
Thì anh mua gạch bát tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.


2 - Lục Bát Biến Thể:

Là thơ Lục Bát không còn thuần tuý là các câu 6 ; 8, mà có thêm nhiều từ vào thành những câu có số chữ là 7; 9 hoặc nhiều hơn nữa.

...Chắc về đâu đã hẳn hơn đâu
Cầu tre vững nhịp hơn cầu thượng gia.
Bắc thang lên thử hỏi trăng già
Phải rằng phận gái hạt mưa sa giữa trời...

...Thành Hà-nội năm cửa chàng ơi
Sông Lục-đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng.
Nước sông Thương bên đục bên trong
Núi đức thánh Tản thắt cổ bồng mà lại có thánh sinh...

2- Thể Thơ Song Thất Lục Bát:

Đây là dạng biến thể từ thơ Lục Bát Vần Trắc.
Dạng này cũng thường nên không nêu thí dụ.

- Song Thất Lục Bát Biến Thể
Không còn giữ nguyên 2 câu 7, một câu 6 và một câu 8

...Sao trời trên sao Hôm sao Mai hai cái
Nhái ngoài ruộng nhái đực nhái cái hai con...

Thơ Lục Bát do giới Bình Dân sáng tạo, chính vì thế nên thể thơ này rất đa dạng và phong phú.

Huỳnh Hữu Đức

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2017

Ngồ Ngộ


Bài Thơ Xướng

Ngồ Ngộ

Vốn dĩ nhà quê dốt học thiền
Cơm rau dưa muối cũng kỳ duyên
Áo quần tơi tả thường vui vẻ
Nhà cửa trống trơn chả phức phiền
Dụng sức nuôi thân làm hạc trắng
Theo đường lượm lá dựng chùa riêng

Thầy Trời quán thế âm đơn giản
“Tròi trọi mình không” lẽ tất nhiên.
                          Cao Linh Tử
                            25/11/2016
  Các bài Thơ Hoạ

      HÀNH THIỀN

Mừng bạn giờ đây đạt đạo thiền
Thực hành đúng với nghiệp và duyên
Vẻ ngoài giản dị không câu nệ
Tính cách ung dung chẳng muộn phiền
Tích đức : chăm lo làm việc thiện
Tu thân : theo đuổi bước đường riêng
Lương tâm thoải mái, lòng thanh thản
Thấu hiểu vô thường lẽ dĩ nhiên
                        Phương Hà
***
             Tự Tại
  
Chẳng lo chẳng nghĩ chẳng cần thiền
Mọi việc theo dòng chảy tự nhiên
Sai đúng nhân gian đâu đã lạ
Mất còn cõi thế có gì riêng
Hơn thua cứ mãi càng thêm rối
Tranh đoạt dài lâu khó tránh phiền
Buông bỏ thong dong đời tự tại
Gặp đâu vui đó hãy tuỳ duyên.
                         Quên Đi
***
               Ngộ

Ý thơ " Ngồ Ngộ" nói lên thiền
Từng chữ mỗi dòng rất hữu duyên
Vật chất đua đòi thêm khốn đốn
Công danh quỳ lụy vướng ưu phiền
Vô minh sân hận nuôi tham vọng
Hỉ xả từ bi chẳng của riêng
Nếu quả chúng sinh gìn đạo đức
Tâm bình thế giới được an nhiên
                      Kim Phượng
***
       AN NHIÊN TỰ TẠI 

Chân quê mộc mạc cũng là thiền,
Dưa muối cơm rau đã hữu duyên.
Giản dị áo quần luôn sạch sẽ,
Đơn sơ nhà cửa chẳng ưu phiền.
Cầu Tiên cầu Phật tùy tâm thiện,
Mộ Đạo mộ Thầy ấy việc riêng.
Vạn niệm một chữ TÂM thị lạc,
Chẳng phiền không muộn sống an nhiên !               
                           Đỗ Chiêu Đức
***
         THIỀN

Đi tu học hỏi biết tham thiền,
Ở cõi ta bà nếu hữu duyên.
Từng trải, thời gian trong quá khứ,
Kinh qua dĩ vãng lắm ưu phiền.
Sân si dứt bỏ rời danh lợi,
Thú tánh buông xa bản chất riêng.
Ham muốn người ta hay tối mắt,
" Vô công bất thụ lộc " an nhiên.
                 Mai Xuân Thanh
***
         HÀNH THIỀN                     

"Ngồ ngộ" chi đâu một chữ Thiền                    
Thực hành nếu được ấy là duyên                     
Thu thân thanh thản thu niềm lạc                     
Cử tọa tâm tư dứt lụy phiền                     
Danh vọng ngoài vòng cương tỏa khoẻ                     
Tiền tài đừng tính của làm riêng                     
Chết đi tay trắng mang gì được !                     
Tiếng tốt muôn đời ắt tự nhiên             
                         songquang
***

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2017

Lệ

Giọt nào cho mối tình câm
Giọt nào đêm vắng mãi đầm đìa rơi
Giọt nào lưu luyến chẳng rời
Giọt nào cho kẻ một đời cô đơn
                          Quên Đi

***
 

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2017

Đất Phương Nam 1: Thu Phục Thuỷ Chân Lạp Phần 2



Về sau này đến đời chúa Nguyễn Phúc Thuần thì triều đình nhà nguyễn đã quá bệ rạc. Ngoài biên cương thì cây cột trụ Nguyễn Cư Trinh cũng vừa qua đời năm 1767, ngoài ra không còn tướng giỏi, trong triều thì Trương Phúc Loan lộng quyền, gây nên cảnh sinh linh đồ thán và đưa đến cuộc khởi nghĩa của nhà Tây Sơn vào năm 1774. Nói về những sự kiện hiển nhiên về sự vong quốc của Champa và Thủy Chân Lạp, các sử gia ngoại quốc thường đề cập đến sự kiện xâm lăng và tiêu diệt từ phía Việt Nam. Tuy nhiên, theo thiển ý, lập luận như vậy e rằng có phần quá khích. Họ chỉ dựa trên lập luận rằng những phần đất nầy đã từng là của Champa và Chân Lạp, nếu không bằng vũ lực thì Việt Nam làm sao có thể chiếm được cả một dãy đất chạy dài từ Thuận Hóa vào đến tận Mũi Cà Mau? Nhưng tại sao lại có một số người muốn làm sai lệch sự thật lịch sử như vậy? Tất cả mọi chuyện đều xảy ra kể từ sau khi thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam, Cao Miên và Lào. 
Vì muốn gây chia rẽ giữa ba dân tộc chính trên bán đảo Đông Dương để dễ bề cai trị, nên thực dân Pháp đã tuyên truyền sai sự thật về những diễn biến lịch sử đã xảy ra tại vùng đất Thủy Chân Lạp. Bên cạnh đó, một số người Cao Miên quá khích, nhất là những người trong hoàng tộc Cao Miên, vì thiên kiến cũng như quá khích nên họ đã chẳng những cố tình hiểu sai sự thật, mà còn tuyên truyền sai sự thật trong quần chúng Cao Miên, khiến cho họ ngày càng căm thù người Việt. 
Nhiều sách sử Cao Miên như quyển ‘Chroniques Royale du Cambodge’ của Mak Phoen, xuất bản tại Paris vào năm 1981, và quyển ‘Le Cambodge entre le Siam et le VN de 1775 à 1860’ của Khin Sok, cũng xuất bản tại Paris vào năm 1991, mặc dầu không nói đến chuyện Việt Nam đánh chiếm đất Cao Miên, nhưng họ lại cho rằng Việt Nam đã lường gạt Cao Miên mà chiếm đất. Họ chỉ nói suông chứ không đưa ra được bằng chứng cụ thể nào chứng minh được lập luận vô căn cứ của họ. Thiết nghĩ, những người Cao Miên quá khích nầy cần phải bình tâm nhìn lại lịch sử của toàn vùng, nhất là quá trình lịch sử của họ với xứ Xiêm La(63). Những người Cao Miên nầy nên thấy rằng vương quốc Xiêm La chưa có đến một lần thật tình với vương quốc Cao Miên. Trong quá trình lập quốc, vương quốc Xiêm La đã chiếm của vương quốc Cao Miên không biết bao nhiêu là đất đai mà kể. Cả một lãnh thổ rộng lớn của họ ngày nay, chỗ nào không phải là đất của Cao Miên và Miến Điện?
Bên cạnh đó, nếu nói về việc dâng hiến đất đai, thì không riêng gì Việt Nam được dâng đất, mà vương quốc Xiêm La cũng được Cao Miên tặng đất, và được tặng rất nhiều nữa là đằng khác. Thử quay về quá khứ của những thế kỷ trước thế kỷ thứ XIII, chúng ta sẽ thấy tất cả những tỉnh Chantaburi, Prachinburi, Xurin, Xixaket, vân vân của Thái Lan ngày nay, đã từng là đất của Cao Miên. Hãy còn một yếu tố khách quan nhưng không kém phần quan trọng trong việc chiếm hữu đất đai ở miền Nam của các chúa Nguyễn, đó là việc các di thần nhà Minh đã tự nguyện xin đến đây khai khẩn hoang địa rồi xin nội thuộc vào Việt Nam,nhứt là trường hợp của Mạc Cửu. Còn riêng về yếu tố ‘công pháp quốc tế’ thì những đất đai ở vùng Thủy Chân Lạp không hẳn là của Chân Lạp, vì kể từ sau khi vương quốc Phù Nam tan rã, Cao Miên chưa bao giờ kiểm soát hay đặt bộ máy chánh quyền tại vùng đất nầy. Như vậy, tại vùng đất Thủy Chân Lạp, vương quốc Cao Miên không hội đủ ba yếu tố chính: lãnh thổ, dân tộc, và chánh quyền. Khách quan mà nói, nếu nói về kế sách thu phục Champa và Thủy Chân Lạp của các chúa tiên triều nhà Nguyễn, chúng ta phải thành thực mà nói rằng các chúa không hề có kế hoạch tiêu diệt các dân tộc này. Từ khi lập quốc, Champa thường mang quân đi chinh phạt khắp nơi. Về phía Tây Nam, họ luôn gây chiến với các nước Chân Lạp, và Mã Lai. 

Về phía Đông Nam, họ luôn dong buồm chinh phạt các đảo quốc ở biển Nam. Chính những cuộc chinh phạt này đã làm cho Champa bị kiệt quệ về nhân lực và tài nguyên, vì họ phải tận dụng vàng bạc để mua sắm vũ khí cũng như nuôi quân. Và hầu như sau các cuộc chinh phạt họ đều bị các nước đối phương đánh trả lại và vì thế mà họ phải tốn một thời gian rất dài tái thiết đất nước của chính họ. Bên cạnh đó, những lần các vua Champa tự nguyện dâng đất. Nếu nhìn lại lịch sử giao thương giữa 2 nước Việt Champa chúng ta sẽ thấy, năm 1069 vua Lý Thánh Tông đem quân chinh phạt Champa là để ổn định biên giới phương Nam chứ không có ý định chiếm đất, vì vua tôi nhà Lý chỉ bắt vua Champa là Chế Củ về Thăng Long để trừng phạt thôi, chứ không ép người Chăm phải nhượng đất. Về sau, đến đời vua Chế Mân, nhà vua dâng đất một cách tự nguyện để đổi lấy nàng công chúa Huyền Trân. Đây không phải là kế sách của Đại Việt, vì vào thời đó có rất nhiều quan trong triều cực lực phản đối việc gả Huyền Trân công chúa cho Chế Mân. 
Đến thời các chúa tiên triều nhà Nguyễn, các ngài luôn quan ngại đến sự quấy nhiễu của Champa do kinh nghiệm lịch sử qua bản chất hiếu chiến của quân đội Champa. Thêm vào đó, vào cuối thế kỷ thứ XVI khi vương quốc Champa đang đẩy mạnh việc giao thương với người Bồ Đào Nha làm cho mối quan ngại của xứ Đàng Trong ngày càng rõ rệt hơn, vì nếu không khéo các chúa Nguyễn sẽ phải “lưỡng bề thọ địch,” phía Bắc phải đối đầu với quân nhà Trịnh, còn phía Nam phải đối địch với vương quốc Chiêm Thành đang có mối giao hảo rất tốt với Bồ Đào Nha. Chính vì thế mà vào năm 1620, chúa Nguyễn phước Nguyên gả con gái thứ chín là công nữ Ngọc Vạn cho vua Miên, và liền sau đó năm 1631, chúa lại gả luôn công nữ Ngọc Khoa cho Chiêm vương là Pô Ro Mê, nhằm tạo sự yên ổn lâu dài cho vùng này. 
Có lẽ chính vì lý do này mà những năm sau đó, người ta không còn thấy người Champa giao hảo với người Bồ Đào Nha nữa. Như vậy, phải công tâm mà nói, người Champa không bị người Việt tiêu diệt, và người Việt cũng không chủ trương xóa sổ toàn bộ văn hóa của dân tộc Champa, bằng chứng là người Việt chưa bao giờ tàn phá những đền đài thánh tích của người Champa khi các vùng đất này thay ngôi đổi chủ. Dù dưới thời các chúa không có chánh sách ưu đãi người Champa, cũng không có chánh sách bạc đãi nào. 

Đến thời Việt Nam Cộng Hòa (1954-1975), miền Nam đặc biệt dành nhiều ưu đãi cho người Champa hay các dân tộc thiểu số khác. Phải nói nguyên nhân đưa đến sự tan rã của vương quốc Champa nằm ngay trong nội bộ của các vương triều Champa, chứ không phải do bị Đại Việt đánh chiếm. Tuy nhiên, chính những mối chia rẽ và suy thoát trong nội bộ Champa đã làm cho cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam nhanh hơn và dễ dàng hơn. Đến khi Việt Nam bắt đầu tiến vào đất Thủy Chân Lạp thì các chúa tiền triều nhà Nguyễn cũng dùng một sách lược đã được áp dụng với Champa để rồi cuối cùng các vua Miên phải tuần tự cắt đi phần đất Thủy Chân Lạp giao cho Việt Nam. Kỳ thật, phần đất Thủy Chân Lạp không phải là bản địa của người Miên, mà là bản địa của vương quốc Phù Nam đã bị Cao Miên lấn chiếm hồi cuối thế kỷ thứ VI, nhưng vì cả một vùng đất bao la bạt ngàn này luôn bị chìm ngập dưới làn nước phù sa của sông Cửu Long, nên hầu như toàn vùng không có cư dân người Chân Lạp. Đến khi lưu dân Việt Nam tràn vào định cư tại đây thì một số người Chân Lạp mới theo chân các người Việt này mà định cư tại các giồng đất cao thuộc các tỉnh Trà Vinh, Sóc, Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá và Châu Đốc. Bên cạnh đó, trong quá trình dựng nước và giữ nước, cha anh chúng ta đã hy sinh quá nhiều xương máu mới để lại cho chúng ta một dãy giang sơn gấm vóc như ngày hôm nay. 
Tuy nhiên, trong tiến trình Nam tiến, dân tộc Việt Nam đã gặp rất nhiều thuận lợi trong việc thu phục Chiêm Thành và Thủy Chân Lạp. Biên giới phương Nam thời kỳ nhà Ngô thu hồi nền độc lập là vùng núi non tỉnh Thanh Hóa, đến năm 1069, vua Lê Đại Hành đã thu phục các vùng Hà Tĩnh, Quảng Bình và phía Bắc Quảng Trị, đến năm 1306 Đại Việt làm chủ phần đất Quảng Nam và Quảng Ngãi, năm 1402 làm chủ Qui Nhơn, năm 1471 làm chủ Phú Yên, 1611 làm chủ Khánh Hòa, 1653 làm chủ Phan Rang, 1693 làm chủ Phan Thiết, và cuối cùng năm 1757, xác lập chủ quyền trên toàn cõi Nam Kỳ. 
Đặc biệt nhất là với chánh sách khôn khéo và mềm dẻo mà chỉ trong vòng chưa đầy một thế kỷ rưởi, các chúa tiền triều nhà Nguyễn đã thu phục toàn bộ đất Thủy Chân Lạp. Tóm lại, phải khách quan mà nói, trên bước đường Nam Tiến về miền đất hoang vu nầy, cha anh chúng ta đã phải đương đầu với quá nhiều thử thách từ đất đai đến thiên nhiên và sơn lam chướng khí. Vào thế kỷ thứ XVII, miền đất Thủy Chân Lạp hãy còn là một miền đất hoang vu, đầy muỗi mòng, rắn rít, hùm beo, và cá sấu...Trên từng tấc đất ngọn cỏ, cha anh chúng ta đã phải đương đầu với không biết bao nhiêu là bất trắc của đất đai và thiên nhiên. Người Việt Nam chúng ta đã phải can đảm lắm, phải sáng tạo lắm mới có thể vượt qua được những tình huống khắc nghiệt của thiên nhiên, để cuối cùng được sống đồng điệu với thiên nhiên, và đồng điệu ngay cả với dân chúng bản địa tại những vùng đất mới nầy. Chính nhờ vậy mà trong suốt cuộc Nam Tiến, dân tộc chúng ta luôn có sự kính trọng của cư dân bản địa, cũng như những dân tộc khác như Lào, Minh Hương, Champa, và Chân Lạp... Và cũng chính nhờ vậy mà trên dãy đất hình cong như chữ ‘S’ dài trên 2.000 cây số nầy mới có được một dân tộc gần như thuần nhứt, thuần nhứt ngoài sức tưởng tượng của mọi người, đến độ ngày nay nếu chúng ta đi đến những vùng đất đã từng mang tên Champa hay Thủy Chân Lạp, ngoài những ngôi tháp cổ của Champa hay Chân Lạp, người ta không thể không tin rằng đây không phải là vùng đất của Việt Nam. 
Tuy nhiên, để có được một dãy non sông gấm vóc như ngày hôm nay, cha anh chúng ta đã phải hy sinh biết bao nhiêu xương máu và mồ hôi nước mắt. Từng tấc đất, từng tấc núi, từng tấc sông, tấc biển... là từng tấc xương máu và mồ hôi nước mắt của tiền nhân. Có ai biết được cha anh chúng ta đã phải hy sinh biết bao nhiêu sinh mạng khi trao lại cho chúng ta một vùng đất phương Nam phồn thịnh? Chúng ta phải luôn nhớ như vậy, để thấy rằng tại vùng đất Thủy Chân Lạp nầy, cha anh chúng ta chưa hề xâm lăng và chiếm lãnh đất đai của Thủy Chân Lạp. Ngược lại, người Việt chúng ta đã đổ ra không biết bao nhiêu xương máu mà người Chân Lạp không dám đổ ra, người Việt chúng ta chỉ tiếp tục khai phá vùng đất mà Chân Lạp thừa hưởng của người Phù Nam nhưng chưa từng có kế hoạch khai phá và định cư, cũng như chưa từng xác lập chánh quyền trên vùng đất này. Thấy như vậy để biết được những hy sinh cao cả của tiền nhân. Thấy như vậy để những người hậu bối chúng ta phải luôn đặt quyền lợi của ‘Tổ Quốc Trên Hết’, trên tất cả mọi quyền lợi của gia đình hay đoàn thể. Ngày trước có tên bán nước Trần Ích Tắc sang Tàu cầu cứu, sẵn sàng dân đất dâng biển để được nắm quyền cai trị về mình; rồi sau nầy có Lê Chiêu Thống cũng lăm le rước ngoại bang về dày xéo quê hương. Dưới thời Tây Sơn hưng khởi, chỉ vì muốn nắm quyền cai trị cho dòng họ mình mà vào năm 1787 Nguyễn Ánh đã sẵn sàng đưa hoàng tử Cảnh làm con tin theo Bá Đa Lộc sang Pháp ký hiệp ước Versailles, dâng hải cảng Hội An và đảo Côn Sơn, cũng như cho Pháp nhiều quyền lợi về kinh tế để được sự trợ giúp về quân sự. Trong thời cận đại cũng không thiếu gì những đảng phái sẵn sàng dâng đất dâng biển cho giặc phương Bắc chỉ mong được chúng cho làm Thái Thú để tiếp tục đè đầu đè cổ chính dân tộc mình. Nói tóm lại, tất cả những hành động dâng đất dâng biển cho ngoại bang, dù chỉ là một tấc đất hay một ngọn cỏ của tiền nhân để lại, hay dù do bất cứ lý do gì, đều là những hành động bán nước không thể tha thứ được. Những người kế thừa chúng ta phải luôn thấy như vậy để chúng ta luôn có nhiệm vụ phải bảo vệ và phát triển từng tấc đất ngọn cây, không để mất đi tấc đất tấc biển nào vào tay bất cứ ai! 

  Chú Thích: 
(1) Từ Kambuja có nghĩa là những đứa con của Kambu, tên của một thủ lãnh của bộ tộc nầy. Sau nầy người Pháp đã lấy tên nầy để gọi nước Chenla, tức Chân Lạp ngày trước. Theo Phan Huy Xu & Mai Phú Thanh trong “Địa Lý Đông Nam Á”, Hà Giang: NXB Giáo Dục, 1999, tr. 61, ngày nay Campuchia nằm ở tây nam bán đảo Đông Dương, giáp Thái Lan, Lào và vịnh Thái Lan. Campuchia có diện tích khoảng 181.000 cây số vuông. Trong đó đồng bằng chiếm ¾ và núi đồi chiếm ¼ diện tích toàn quốc. Dãy núi Dangrek dài khoảng 300 cây số chạy theo hướng tây-đông. Cư dân của Campuchia đa số là tộc người Khmer, một nhánh của người Indonésien. Vào thế kỷ thứ VI sau tây lịch, Bhavavarman I đem quân đánh và thu phục toàn bộ lãnh thổ của vương quốc Phù Nam. Đến thế kỷ thứ VIII Chân Lạp bị khủng hoảng và rối ren về chính trị nên bị người Java sang đánh chiếm, đến đầu thế kỷ thứ IX vua Jayavarman II giành được độc lập và thành lập vương triều Angkor rực rỡ với đỉnh cao là nền văn minh Angkor từ thế kỷ thứ IX đến thế kỷ thứ XV. Từ năm 1473 đến cuối thế kỷ thứ XVI, Campuchia bị người Xiêm La lấn chiếm toàn bộ khu vực sông Ménam và vùng cao nguyên Korat, khiến cho diện tích Campuchia bị thu nhỏ lại như ngày nay. Năm 1859 vương triều Norodom bắt đầu và năm 1863 Campuchia bị Pháp bảo hộ, mãi đến năm 1945 mới giành lại được độc lập. 
(2) Phía bắc Campuchia và Nam Lào ngày nay. 
(3) Ngày nay thuộc Thái Lan. 
(4) Thuộc Nam Dương ngày nay. 
(5) Theo Encyclopédie Encarta 2001, article sur le Cambodge, cả hai thành Angkor Wat và Angkor Thom đều nằm trong tỉnh Siemreap ngày nay. Trong số các đền đài trong tỉnh Siemreap còn xót lại thì Angkor Wat và Angkor Thom, được xây dựng vào thế kỷ thứ XII là vĩ đại nhất. Angkor Wat có chiều dài khoảng 1.000 mét, rộng khoảng 850 mét; tuy nhiên, diện tích tổng thể của toàn vùng lên đến khoảng 100km2. Năm 1431, người Xiêm kéo đến tàn phá cả vùng Angkor, vương triều phải dời về Phnom Penh vào năm 1434. Đến thế kỷ thứ XVI, kinh đô lại phải dời về Oudong, rồi sau đó mới thiên di trở lại Phnom Penh lần nữa vào năm 1866 dưới thời vua Norodom I. Từ khi người Chân Lạp rời bỏ vùng Angkor, đế đô nầy bị chìm ngập trong hoang vắng cho đến năm 1851, nó mới được một nhà côn trùng học người Pháp tên Mouhot phát hiện. Năm 1880, thực dân Pháp cho trùng tu lại đế đô nầy. 
(6) Người xứ Nam Dương ngày nay. 
(7) Lục Chân Lạp là địa phận của nước Cao Miên, Hạ Lào và Trung Lào ngày nay; và Thủy Chân Lạp là miền Nam Việt Nam ngày nay. 
(8) Ponhea Yat tức Soryopor (1432-1467), người kế thừa hợp pháp của Chân Lạp thời bấy giờ. 
(9) Tưởng cũng nên nhắc lại, nguồn gốc của người sáng lập nên triều đại Ayutthaya của Xiêm La; tuy nhiên, theo truyền thuyết kể lại thì có một vị vua tên Traitrung tại một vương quốc nhỏ thuộc một trong những bộ tộc Thái, nằm về phía Nam tỉnh Vân Nam, cảm thấy rất buồn nản vì tình trạng của một cô công chúa không chồng mà lại có con, vì lở ăn trái cà do Saen Pom, một tên làm vườn tưới bằng nước tiểu của hắn. Sau đó nhà vua quyết định tống khứ cô công chúa cùng con nàng đi theo tên Saen Pom ra khỏi kinh thành. Trời Đế Thích thấu hiểu nỗi khổ của ba người đang lang thang trong rừng thẳm, nên đã ban cho Saen Pom ba điều ước, và Saen Pom đã ước sao cho thân thể biến đi những mục cốc xấu xí, ước có được một vương quốc để trị vì, và ước được có một cái nôi bằng vàng cho đứa con của mình. Tất cả ba điều ước đều được Trời Đế Thích cho Saen Pom toại nguyện. Từ đó đứa bé được gọi là vị hoàng tử có chiếc nôi vàng, hay Chao-U-Thong. Từ đó Saen Pom trở thành vị vua đầu tiên, và ông đặt tên cho vương quốc mình là U-Thong, ngày nay nằm trong địa phận tỉnh Suphan Buri. Đến đời vua Phya U-Thong, một trận dịch hạch khiếp đảm đã khiến cho vương quốc U-Thong phải di chuyển xuống vùng Ayodhya hay Ayutthaya. Đây là chỗ hội tụ của ba dòng sông lớn: sông Chao Phya, sông Lop Buri, và sông Pasak, lại không xa bờ Ấn Độ Dương là mấy, nên vương quốc Ayutthaya phất lên từ đó. Sau ba năm chuẩn bị, vua Phya U-Thong đã lập nên kinh đô vào năm 1350 và đổi danh hiệu là Ramathibodi I. Chính vua Ramathibodi I là người đã mở mang bờ cõi khiến vương quốc Ayutthaya bao gồm cả xứ Sukhothai, miền Nam Miến Điện, bán đảo Mã Lai, xứ Chiang Mai và xứ Chenla, tức Chân Lạp. Vào thời kỳ nầy, tuy chính vương quốc Ayutthaya đã làm cho Angkor suy tàn, nhưng ảnh hưởng của Angkor lại rất mạnh mẽ trong đời sống hàng ngày của nhân dân trong vương quốc Ayutthaya, nhất là quan niệm ‘Thiên Vương’, nghĩa là vừa là vua, mà cũng là một vị trời của nền văn hóa Angkor đã khiến cho vị quốc vương Thái Lan trở thành vị đứng đầu triều đình mà cũng đứng đầu giáo hội. Ngôn ngữ của Xiêm La cũng bị ảnh hưởng không nhỏ bởi ngôn ngữ Khmer, chẳng những trong các nghi lễ tôn giáo hay triều đình, mà còn trong cuộc sống hàng ngày nữa. Chính vua Ramathibodi I là vị quốc vương đầu tiên đã thiết lập nên chế độ phân quyền tại vương quốc Xiêm La ra làm bốn phần: hoàng gia, nội vụ, tài chánh và nông nghiệp. Năm 1390, vua Ramesuen đánh chiếm Chiang Mai; sang năm 1393 lại tấn công thẳng vào Angkor. Tuy nhiên, mãi đến năm 1431, vua Boromaraja II mới xâm chiếm hoàn toàn đế đô Angkor của vương quốc Khmer. Cũng vào thời kỳ nầy, vương quốc Ayutthaya và Chiang Mai lại tách ra làm hai vương quốc với hai kinh đô khác biệt, nghĩa là vương quốc Xiêm La đang lâm vào cảnh nội chiến xảy ra trong suốt hai thế kỷ. Đến đời vua Boroma Trailokanath, hay còn gọi là vua Trailok, trị vì từ năm 1448 đến năm 1488. Chính vị vua nầy đã cải tổ toàn bộ nền hành chánh quân chủ của Xiêm La, và ảnh hưởng của sự cải tổ nầy vẫn kéo dài đến thế kỷ thứ XIX. Nhà vua đã tập trung quyền hành vào tay triều đình trung ương, qui định lại về sở hữu ruộng đất, bổng lộc cho quan quân, cũng như công việc lao động của thường dân. Trong đạo luật triều đình, tức Palace Laws, nhà vua đã ấn định lại thứ hạng của hoàng tộc và nhiệm vụ của quan lại. Đến năm 1511, vua Ramathibodi II đã cho phép người Bồ buôn bán trên đất Thái để đổi lấy súng đạn và nhiều loại vũ khí khác. Chính các quân nhân Bồ Đào Nha đã góp phần không nhỏ trong việc giúp vua Ramathibodi II đánh chiếm Chiang Mai. Trong khi Ayutthaya và Chiang Mai liên tục đánh nhau thì vua Tabinshweti của xứ Pegu, tức Miến Điện ngày nay, đã cất quân đánh vua Mahachakrapat của xứ Ayutthaya, nhưng nhờ lòng dũng cảm của hoàng hậu xứ nầy mà quân Miến Điện không chiếm được xứ Ayutthaya. Năm 1569, quân Miến lại tấn công vương quốc Ayutthaya, lúc nầy vua Mahachakrapat quyết định cầu viện đến sự giúp đỡ của người Bồ, nhưng cuối cùng vua Mahachakrapat cũng bị người Miến bắt giữ. Miến Điện cho phép phó vương Thamaraja tiếp tục cai trị xứ Ayutthaya như một chư hầu của Miến Điện. Đến năm 1584, con trai lớn của vua Mahachakrapat là Naresuen cùng với em trai là Ekatotsarot nổi lên đánh đuổi quân Miến ra khỏi bờ cõi và gianh lại độc lập cho vương quốc Ayutthaya. Năm 1590, Naresuen lên ngôi vua và phát triển kinh đô Ayutthaya đến chỗ cực thịnh. Năm 1605, em trai của Naresuen là Ekatotsarot lên ngôi vua, ông chăm lo phát triển kinh tế, nhất là trong việc giao thương với các quốc gia Tây phương. Đến năm 1610, vua Songtham lên ngôi, cũng tiếp tục chánh sách mở cửa của các vua Naresuen và Ekatotsarot. Đến năm 1655, người Nhật đã trợ giúp cho vị nhiếp chính là Prasat Thong soán ngôi vua Ekatotsarot, và triều đình mới nầy vẫn tiếp tục mở cửa buôn bán giao thương với các nước Tây phương. Tuy nhiên, sau khi con trai của vua Prasat Thong là Narai qua đời, các vị vua kế nghiệp đã chấm dứt chính sách mở cửa và Thái Lan rơi vào vị thế cô lập trong suốt 150 năm. Mãi đến năm 1782, tướng Chao Phya Chakri đứng lên đảo chánh, vua Taksin phải thoái vị trong cơn bệnh hoạn, và tướng Chao Phya Chakri lên ngôi lập nên triều đại Chakri, lấy niên hiệu là Ramathibodi mà sau nầy người Thái gọi là vua Rama I, nhà vua dời kinh đô xuống Bangkok cho tới ngày nay. 
(10) Cư dân trong các đồn điền nầy vừa là lính bảo vệ mà cũng vừa là nhân khẩu canh tác và sản xuất lúa gạo cho triều đình. 
(11) Vùng Sa Huỳnh ngày nay. 
(12) Không rõ họ, đang làm chủ sự đạo Quảng Nam. 
(13) Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, nxb Tân Việt, 1964, tr. 327. 
(14) Chúa Nguyễn Phúc Nguyên trị vì xứ Đàng Trong từ năm 1613 đến năm 1635. 
(15) Nghĩa là lúc đó lưu dân và quân đội xứ của Đàng Trong đã vượt qua các vùng đất từ Phan Thiết đến Biên Hòa để tiến thẳng về vùng Thủy Chân Lạp, tức Nam Kỳ ngày nay. 
(16) Trong tỉnh Kompong Luông của Campuchia ngày nay. 
(17) Tức công nữ Ngọc Vạn. (18) Tức vùng Chợ Lớn và Sài Gòn ngày nay.  (19) Lúc nầy quân Chân Lạp có sự trợ giúp của xứ Đàng Trong. 
(20) Ngày nay là các vùng Bà Rịa, Biên Hòa, Chợ Lớn và Sài Gòn. 
(21) Tức vùng Quảng Bình ngày nay. 
(22) Vị tướng mà chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã sai đi dẹp loạn hai năm trước đó. 
(23) Nguyễn Phúc Vinh, còn có tên là Nguyễn hữu Vinh, tên thật là Mạc Cảnh Vinh, con của Mạc Cảnh Huống, có vợ là con gái đầu lòng của chúa Sãi tên là Nguyễn Phúc Ngọc Liên, nên được đổi tên họ sang Nguyễn Phúc Vinh. 
(24) Có nghĩa là chưa từng được ai khai thác. 
(25) Cần Thơ chỉ mới được thật sự khai thác từ khi người Pháp chiếm toàn bộ Nam Kỳ vào sau năm 1867 mà thôi. 
(26) Thời bấy giờ dinh Trấn Biên là vùng Phú Yên ngày nay. 
(27) Batom Reachea, trị vì Chân Lạp từ năm 1660 đến năm1672. (28) Chey Chetta III vừa là cháu mà cũng vừa là rể của vua Batom Reachea. (29) Hồi nầy Cai Cơ Nguyễn Dương Lâm đang chỉ huy đạo Nha Trang, thuộc dinh Thái Khương. 
(30) Tức vùng Bà Rịa ngày nay. (31) Thuộc tỉnh Quảng Tây ngày nay. 
(32) Tên Khmer của đảo Phú Quốc ngày nay. 
(33) Vùng Kampot (thuộc Cao Miên) và Hà Tiên ngày nay. 
(34) Theo giáo sĩ Labbé, năm 1710, số người Minh Hương tại miền Nam đã lên tới trên 20.000, tập trung tại các vùng cù lao Phố và Đại Phố Mỹ Tho. 
(35) Có sách viết là Nguyễn Hữu Kỉnh hay Nguyễn Hữu Kính. 
(36) Nghĩa là kể từ năm 1698, vùng Biên Hòa và Gia Định đã chính thức được sáp nhập vào bản đồ Việt Nam, thiết lập thôn xã, và đặt quan cai trị. 
(37) Biên Hòa và Gia Định. 
(38) Nặc Yêm là con trai của Nặc Nộn. 
(39) Nặc Thâm là con trai của Nặc Thu. 
(40) Mỹ Tho và Long Hồ. 
(41) 12 dinh nầy bao gồm Chánh dinh (Phú Xuân), Cựu dinh (Ái Tử), Quảng Bình dinh, Vũ Xá dinh (Lưu Đồn), Bố Chính dinh, Quảng Nam dinh,, Phú Yên dinh, Bình Khang dinh, Bình Thuận dinh, Trấn Biên dinh, Phiên Trấn dinh, và Long Hồ dinh. 
 (42) Các vùng Tân An và Gò Công ngày nay. 
 (43) Ngày nay là các vùng Trà Vinh và Sóc Trăng. 
(44) Ngày nay là các vùng Long Xuyên, Châu Đốc, Tân Châu, Sa Đéc, một phần của Cao Lãnh, và một phần của Rạch Giá. 
(45) Cần Bột, Hương Úc, Trực Sâm, Sài Mạt và Linh Quỳnh. 
(46) Vùng Sa Đéc ngày nay. 
(47) Vùng Cà Mau ngày nay. 
(48) Vùng Cần Thơ ngày nay. 
(49) Vùng Sóc Trăng và Bạc Liêu ngày nay. 
(50) Đất Hà Tiên thời bấy giờ bao gồm các vùng Hà Tiên, Phú Quốc, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cần Thơ. 
(51) Biên Hòa ngày nay. 
(52) Tức vùng Bình Thuận ngày nay. 
(53) Các vùng Bình Long, Phước Long, Bình Dương, Thủ Dầu Mộ, và Biên Hòa ngày nay. 
(54) Các vùng Tây Ninh, Hậu Nghịa, Gia Định và Tân An ngày nay. 
(55) Từ chợ Quái đến Gò Cây Mai. (56) Tức chùa Phụng Sơn ở Sài Gòn ngày nay. 
(57) Cuộc thiên di thứ nhất vào năm 1558 khi chúa Nguyễn Hoàng và đoàn tùy tùng hành trình vào đất Thuận Hóa. (58) Các vùng Tân An, Gò Công và Mỹ Tho ngày nay. 
(59) Khoảng giữa Mỹ Tho và Bến Tre. 
(60) Dinh Long Hồ xưa là vùng đất mà bây giờ bao gồm cả một vùng đất rộng lớn bao gồm Vĩnh Long, Trà Vinh, Sa Đéc, Bến Tre, Cần Thơ... 
(61) Nằm trong địa phận các tỉnh Đồng Tháp và An Giang ngày nay. 
(62) Vùng Tân Châu hồi nầy có tên là ‘Trường Bả Canh’, một trong chín điểm thu thuế lúa thóc của chúa Nguyễnở vùng đồng bằng sông Cửu Long. 
(63) Sau năm 1959, vương quốc Xiêm La được đổi tên thành vương quốc Thái Lan. 



Người Long Hồ 
Anaheim ngày 3 tháng 8 năm 2011