Thứ Ba, 19 tháng 9, 2017

Về Miền Tây Bài 10


Phía Đông Nam của Vĩnh Long, về phía hạ lưu sông Cửu Long là tỉnh Trà Vinh. Trà Vinh cũng được bao bọc bởi hai con sông Tiền Giang và Hậu Giang. Đây là đoạn chót của cù lao ba tỉnh Vĩnh Long Sa Đéc Trà Vinh. Trà Vinh do tiếng Khờ me “Preas Trapeang” có nghĩa là Chủng Tử Phật. Dưới thời Gia Long thì Trà Vinh thuộc trấn Vĩnh Thanh (An Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh). Sau khi chiếm trọn Nam kỳ, tướng Pháp là De la Gradière cho thành lập tỉnh Trà Vinh để tiện việc cai trị. Tuy là tỉnh mới, nhưng Trà Vinh có mức độ phát triển rất nhanh. Đất Trà Vinh cũng nằm giữa hai con sông Tiền giang (Cổ Chiên) và Hậu giang (Ba Thắc), gồm 7 quận: Châu Thành, Càng Long, Cầu Kè, Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Ngang và Duyên Hải. Về vị trí thì Bắc và Đông Bắc giáp Bến Tre, Tây và Tây Bắc giáp Vĩnh Long, Tây Bắc giáp Vĩnh Long và Cần Thơ, Tây và Tây Nam giáp Sóc Trăng, Đông giáp Bến Tre và biển Đông, Đông Nam giáp biển Đông. Về địa thế, Trà Vinh là một dãy đất hình móng ngựa ven bờ biển Đông, bao gồm vùng châu thổ được thành hình lâu đời và vùng đất trẻ mới được bồi đắp sau này. Tuy nằm trên một cù lao và gần biển hơn so với Vĩnh Long, nhưng độ cao trung bình của Trà Vinh tương đối khá cao, từ 2 đến 3 mét so với mực nước biển. Từ trên phi cơ nhìn xuống chúng ta thấy phía Đông Nam Trà Vinh như những vũng nước (những cánh đồng nhỏ hẹp xen lẫn những đầm lầy) được bao bọc xung quanh bởi những giồng đất hay cát khá cao và chạy song song với những đợt sóng của biển Đông. Trà Vinh là một dãy đồng bằng chằng chịt sông kinh rạch và được bao bọc bởi ba phía Đông Nam và phía Nam là biển, với bờ biển dài khoảng 65 cây số, còn phía Đông Bác và Tây Nam là sông Tiền và sông Hậu. Những vùng dọc theo bờ biển Trà Vinh có nơi cát bị gió biển thổi đùn lên thành những đụn cát tạo thành những giồng, xen lẫn với đất phù sa từ hai cửa sông Cổ Chiên và Ba Thắc tạo thành những cánh đồng nhỏ hẹp chạy song song với những giồng cao trông như những lượn sóng biển dọc theo miền duyên hải. Trà Vinh không có núi đồi, mà chỉ có kinh rạch chằng chịt khắp nơi. Hai con sông chính là sông Cổ Chiên và sông Ba Thắt. Sông Cổ Chiên giáp ranh với Bến Tre và đổ ra cửa Cung Hầu, còn sông Ba Thắt giáp ranh với Sóc Trăng và đổ ra cửa Định An. Ngoài ra, Trà Vinh còn có nhiều kinh rạch như kinh Bà Liêu, kinh Ba Túc, kinh Tân Lập, kinh Láng Sắc, kinh Trà Ếch, và một số kinh đào nhỏ ở vùng Bàu Sen, Láng Cháo, Cồn Cù, chạy dài từ kinh Zéro đến kinh 28. Thời Pháp mới chiếm Nam Kỳ và mới thành lập tỉnh, thì diện tích Trà Vinh khoảng 2.000 cây số vuông. Thời Việt Nam Cộng Hòa, diện tích Trà Vinh khoảng 2.226 cây số vuông với dân số khoảng trên 500.000. Tuy nhiên, hiện tại tỉnh Trà Vinh rộng hơn với diện tích khoảng 2.369 cây số vuông, và sau theo thống kê mới năm 1999, dân số Trà Vinh có gần một triệu người. Người Kinh chiếm trên 70 phần trăm, kế đến là người Khmer và người Hoa. Về khí hậu tỉnh Trà Vinh cũng như toàn thể Nam bộ chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, vì nằm gần đường xích đạo nên Trà Vinh nóng và ẩm quanh năm và chia làm hai mùa mưa nắng rõ rệt. Tuy nhiên, vì có những giồng cát ven biển nên mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4) nên Trà Vinh có phần nóng hơn các nơi khác trong vùng. Về mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11) thường có những đám mưa lớn và dai hơn những nơi khác, lượng nước mưa trung bình vào khoảng từ 1.400 mm đến 1.600 mm. Nhiệt độ trung bình quanh năm từ 25 đến 27 độ C. Trà Vinh nối liền với Vĩnh Long bởi liên tỉnh lộ 7A, dài 66 cây số. Ngoài ra Trà Vinh còn các tỉnh lộ 34, 35, 36 và 37 nối liền tỉnh lỵ Trà Vinh với các quận. Về đất đai, cũng như các vùng lân cận, Trà Vinh được hình bồi đắp bởi phù sa hai con sông Tiền Giang và Hậu Giang. Ven biển có nhiều đụn cát do thủy triều từ xa xưa tạo nên, dồn phù sa lại thành giồng cao hơn những vùng chung quanh. Thêm vào đó Trà Vinh có nhiều kinh rạch chằng chịt nên rất thuận tiện cho việc trồng trọt. Chính vì thế mà về nông nghiệp, Trà Vinh có đến 90% diện tích trồng lúa. Những vùng giáp với Vĩnh Long thì nước ngọt quanh năm và việc canh tác cũng giống như Vĩnh Long, còn những vùng ven biển nơi có nước pha chè (nước lơ lớ nửa mặn nửa ngọt) thì dân chúng thường cất nhà trên những giồng đất cao và làm ruộng ở những vùng đất trũng. Từ Trà Vinh đi Long Toàn, Bàu Sen, Long Khánh, Láng Cháo, Cồn Cù... nông dân thường cấy lúa trong những cánh rừng thấp, đất rất mềm, khỏi cày cuốc chi cả như những khu rừng 13, 14, 15 ở Long Toàn. Về kinh tế, ngoài việc trồng lúa, dân Trà Vinh còn trồng đủ loại cây ăn trái mang lại nhiều lợi tức như dừa, cam, quít, dưa hấu, mảng cầu, ổi, chuối, chanh, dứa, vân vân. Dọc theo các kinh rạch từ các quận Càng Long, Cầu Ngang, Long Toàn, Trà Cú, và Cầu Kè và hai bên bờ sông Cổ Chiên và Ba Thắt, người ta trồng rất nhiều cây thuốc lá và các loại đậu. Bên cạnh đó, dân các vùng liên ranh với tỉnh Vĩnh Long còn chuyên nghề trồng các loại hoa từ trúc đào, vạn thọ, cúc, lan, mộc cẩn, kim phụng, bồ điệp... Khu rừng thấp chạy dài từ Bến Giá, Ba Động, qua Long Toàn, Cồn Cù, Láng Cháo, có rất nhiều khu rừng mắm, giá, đước, vẹt, dừa nước, tràm... Ngoài ra, bờ biển Trà Vinh cũng giúp mang lại cho ngành hải sản một nguồn lợi lớn lao như tôm càng, tôm bạc thẻ, cua, sò huyết, ốc tai voi, rùa... Bên cạnh đó, nhờ có một mạng lưới kinh rạch nên nghề đánh cá và thủy sản ở Trà Vinh cũng rất phồn thịnh. Trà Vinh nổi tiếng về cá trê, cá lóc, cá rô, cá tra, cá mè, cá bống kèo, cá rô phi... Cũng như Mỹ Tho và Bến Tre, Trà Vinh là nơi mà người Triều Châu đến lập nghiệp sớm nhất (có lẽ còn trước cả thời Dương Ngạn Địch xin các chúa Nguyễn vào Mỹ Tho lập nghiệp nữa là khác). Hiện nay tại chợ Trà Vinh hãy còn rất nhiều những khu phố buôn bán của người Hoa. Đến Trà Vinh bạn không thể nào bỏ qua món điểm tâm với cơm xíu mại thật đặc sắc của người Triều Châu. Có thể nói Trà Vinh là vùng đất có nhiều người Khmer nhất ở miền Nam. Trước năm 1975, chánh quyền VNCH đã thống kê Trà Vinh có trên 200 ngôi chùa, gồm trên 140 ngôi chùa Việt, 50 chùa Khmer, và khoảng trên 10 ngôi chùa của người Hoa, có trên 50% dân số trong tỉnh Trà Vinh là người Khmer. Chính vì thế mà Trà Vinh hãy còn rất nhiều di tích văn hóa và lịch sử Khmer. Chùa của người Khmer chẳng những là nơi tín ngưỡng lễ bái theo Phật giáo Theravada, mà còn là trường học dạy chữ Khmer. Hằng năm các chùa Khmer đều tổ chức những lễ hội đặc sắc và độc đáo theo truyền thống Khmer. Tại xã Đa Lộc, về phía Nam thị xã Trà Vinh chừng 6 cây số có chùa Hang đã có gần bốn thế kỷ nay. Chùa còn có tên là chùa Mồng Rầy (Kamponynixprdle), nhưng dân địa phương quen gọi là chùa Hang, vì nó có lối kiến trúc giống như một cái hang. Chùa Angkorett Pali là một trong những ngôi chùa cổ nhất trong hệ thống chùa Khmer ở Trà Vinh. Chùa tọa lạc trên khu đất rộng trên 4 mẫu đất, nằm trong xã Nguyệt Hóa cách thị xã Trà Vinh chừng 7 cây số, ẩn mình trong những hàng cây cổ thụ quanh khuôn viên ao Bà Om. Chùa Nôdol hay chùa Cò (còn gọi là chùa Giồng Lớn), nằm trong ấp Giồng Lớn, thuộc quận Trà Cú, khoảng 40 cây số về phía Nam của Trà Vinh. Vì sân chùa rộng nên chùa là nơi cư ngụ của đủ các loại cò trắng, cò quắm, cò đầu đỏ, cò đầu vàng, cò mỏ vàng, cò mỏ đen, vân vân, vì thế mà dân trong vùng gọi là chùa Cò. Đây là ngôi chùa có nét kiến trúc độc đáo của nền văn hóa người Khmer ở Trà Vinh. Chùa được bao bọc bởi những rặng tre và những hàng cây sao cây dầu cao ngất. Chùa Samrông Ek cũng trong xã Nguyệt Hóa, nghe nói chùa đã được xây vào thế kỷ thứ 7, có thuyết khác cho rằng chùa đã được xây vào năm 1373. Nhưng ngôi chùa cũ đã hư hại hoàn toàn nên ngôi chùa mới được xây năm 1850 và trùng tu vào năm 1944. Trong chùa hãy còn lưu giữ một số tượng cổ Noria bằng đá quý và các bia khắc bằng chữ Khmer, quanh chùa có nhiều tháp mộ. Nói đến Trà Vinh người ta thường nhắc đến những thắng cảnh nổi tiếng như Ao Bà Om. Đây chẳng những là thắng cảnh của Trà Vinh mà còn của cả vùng Nam bộ. Ao nằm trong xã Nguyệt Hóa, quận Châu Thành, cách thị xã Trà Vinh chừng 7 cây số. Ao có hình chữ nhật, dài khoảng 500 mét, rộng khoảng 300 mét, nằm dọc theo quốc lộ 53. Mặt nước ao lúc nào cũng trong và phẳng lặng, xung quanh có gò cát cao với những hàng cây sao cổ thụ rợp bóng mát. Lúc toàn vùng Trà Vinh hãy còn là vùng đất mới, chung quanh có nơi còn đang bồi đắp bởi phù sa, thì ao Bà Om chính là nơi chứa nước ngọt quanh năm. Truyền thuyết kể rằng lúc đào ao Bà Om thì 2 phái nam và nữ tranh chấp (lúc Chân Lạp còn theo chế độ mẫu hệ thì người nữ phải cưới người nam), trong khi phụ nữ thì muốn nam giới phải đi cưới vợ, phải làm rể một thời gian sau ngày cưới, và sau khi cưới phải ở luôn bên nhà vợ; còn phái nam muốn người nữ phải đi cưới chồng, nên hai phía còn tranh chấp nhau mãi không thôi. Về sau thì bên nữ thách bên nam là hai bên sẽ thi đua đào hai cái ao, nếu bên nào đào xong trước thì bên đó thắng. Phái bên nào thua thì từ đó phái đó phải chịu tốn tiền cưới hỏi. Hai bên bắt đầu đào từ đầu hôm khi “sao Hôm” vừa ló dạng, đến rạng đông khi “sao Mai” ló dạng là phải ng ưng tay để chấm điểm hơn thua. Bên phái nam cầm chắc chiến thắng trong tay vì ai nấy đều lực lưỡng, sức đàn bà làm sao qua nỗi, vì thế mà họ khinh địch, không khởi công đào một lượt với bên nữ, ngược lại họ còn tụm năm tụm ba nhăm nhi ba xị đế. Bên phái nữ biết phận mình nên khi trời vừa sụp tối là họ bắt tay ngay vào việc. Đào được một lúc thì bên nữ có bà thủ lãnh tên “Om” đã dùng mỹ nhân kế dụ dỗ cho bên nam xao lãng công việc, vừa đào vừa chơi. Đến rạng sáng khi sao mai vừa mọc thì ao bên nữ đã đào xong một cái ao thật to, còn ao bên nam vẫn còn dở dang. Từ đó phái nam phải đi cưới vợ và phải ở rể. Có người bác bỏ truyền thuyết về người đàn bà tên “Om,” nhưng thôi mình đâu phải là những nhà khảo cổ chính xác. Thôi thì nhận có truyền thuyết bà “Om” cũng được, mà không nhận cũng không sao. Trải qua bao thế hệ, ao Bà Om vẫn còn tồn tại và vẫn giữ được vẻ đẹp, trong khi ao bên đàn ông ở phía bên kia chùa Âng đã bị lấp dần, dầu hiện nay vẫn còn dấu vết (cách chùa Âng chừng 1 cây số).


 Ngoài ra, cách bãi biển Mỹ Long, quận Cầu Ngang chừng 3 cây số có một thắng cảnh tuyệt đẹp là Cồn Ngao. Khi thủy triều lên thì toàn bộ cồn cát chìm trong nước biển, khi thủy triều xuống thì cồn mới hiện. Không khí ở đây mát mẻ dễ chịu, đặc biệt ở đây có rất nhiều ngao nước ngọt nên người ta gọi là cồn ngao. Trên cồn có những nhà nghỉ mát được cất cao hơn mực nước biển để phục vụ du khách. Từ Trà Vinh đi khoảng 55 cây số về hướng Long Toàn, qua khỏi Bến Giá một đổi là đến Ba Động. Biển Ba Động nằm trong xã Long Hòa, huyện Duyên Hải, bãi dài khoảng 12 cây số. Không khí ở đây rất trong lành, xa xa có nhiều cồn cát trắng rất đẹp. Vào mùa hè, dân các vùng Sa Đéc Vĩnh Long thường hay về đây nghỉ hè và tắm biển. Có lẽ đây là vùng biển duy nhứt trong vùng biển phía Nam có cát trắng nước xanh. Không khí ở đây rất trong lành, nên thời Pháp thuộc, họ đã cho xây nhà nghỉ mát, dành cho các quan chức đến đây nghỉ mát và tắm biển. Vùng biển Bến Giá, Ba Động, Long Toàn, Giồng Trôm, Cồn Cù, Láng Cháo... còn một thứ đặc sản rất đặc biệt mà không nơi nào khác có được, đó là món “mắm rươi”. Rươi là một loại “rít biển” (nói nôm na theo dân địa phương), rươi thường sống trong những đám dừa nước, đến mùa “rươi” hay mùa nước lớn thì từng đám “rươi” không biết là hàng tỷ tỷ con trôi theo con nước. Dân địa phương chỉ việc dùng vợt để vớt “rươi” rồi bỏ chúng vào những lu nước muối để sẵn dưới ghe, rồi đưa về nhà phơi nắng, phơi khoảng một mùa nắng là ăn được. Người ta còn dùng rươi để nấu nước mắm rất ngọt và thơm, ngon hơn nước mắm cá biển nhiều. Phẩm chất cua và cá kèo Trà Vinh không thua bất cứ vùng nào quanh miền biển Nam Việt. Dân địa phương thường nấu cá kèo với mắm rươi, người ta nói thời Gia Long tẩu quốc thì đây là món mà ông ta thích nhất, nên dân trong vùng còn gọi mắm rươi là “mắm ngự.” Trà Vinh không những là quê hương của đủ loại cá biển, mà nó còn là quê hương của những đìa cá nước ngọt đủ loại từ cá lóc, cá rô, cá trê trắng, trê vàng... và đủ các loại rắn, trăn, rùa, kỳ đà, lươn, chạch. Ngoài ra, ba khía Trà Vinh cũng nhiều và không thua gì ba khía Bạc Liêu hay Cà Mau. Cũng như các vùng khác ở đồng bằng sông Cửu Long, Trà Vinh chằng chịt những kinh rạch nên hầu hết dân chúng trong vùng di chuyển đi lại bằng đường thủy, và lực lượng ghe thuyền của Trà Vinh cũng đáng kể. Tuy nhiên, hệ thống đường bộ của Trà Vinh cũng nhiều. Trà Vinh có đường trải đá và tráng nhựa đi các nơi như tỉnh lộ 35 từ Trà Vinh đi Bắc Trang, tỉnh lộ 36 từ Trà Vinh đi Trà Cú, tỉnh lộ 6 từ Trà Vinh đi Mặc Bắc, liên tỉnh lộ số 7 từ Trà Vinh về Vĩnh Long... Nguồn lợi chủ yếu của Trà Vinh vẫn là lúa gạo, nhưng nghề rẫy và sản xuất rau quả tại đây những vùng đất giồng cũng phát triển mạnh. Ngoài ra, ngành hải sản cá khô, tôm khô, cũng như các loại cua, ghẹ... sản xuất dư dùng trong tỉnh và xuất cảng đi Sài Gòn và các vùng phụ cận. Thị xã Trà Vinh nằm bên bờ rạch Trà Vinh, cách bờ sông Cổ Chiên (sông Tiền Giang) khoảng 3 cây số. Từ Trà Vinh đi Vĩnh Long khoảng 66 cây số. Từ Trà Vinh đi Sài Gòn qua ngã Vĩnh Long là 202 cây số, tuy nhiên, nếu đi ngã Bến Tre và Mỹ Tho, Trà Vinh chỉ cách Sài Gòn có 110 cây số mà thôi. Trà Vinh là vùng cây cối xanh tươi quanh năm, kênh rạch dọc ngang chằng chịt, với những giồng cát liên tiếp nhau như sóng biển, vì thế mà phong cảnh Trà Vinh rất hữu tình và thơ mộng với ruộng đồng chen lẫn vườn cây, đụn cát chạy dài trên các giồng. Đây là vùng đất mà trên đó ba sắc dân Việt, Khmer và Hoa sống với nhau rất hài hòa. Chính vì thế mà lễ hội ở Trà Vinh cũng mang một sắc thái đặc biệt hơn những nơi khác. Người Việt và người Hoa thường sống chen lẫn nhau tại thành thị, còn người Khmer thường sống quanh các chùa, trong các thôn làng có nhiều cây to. Dân tộc Khmer có những lễ hội rất đặc sắc quanh năm, như lễ đón năm mới (Chôl Chnam Thmây), tức là Tết của cộng đồng người Khmer, được tổ chức vào giữa tháng 4 dương lịch. Lễ cúng ông bà (lễ Đôlta), cũng là một torng những lễ lớn của người Khmer, được tổ chức vào 3 ngày mỗi năm từ ngày 29 tháng 8 đến mồng 1 tháng 9 âm lịch. Lễ cúng trăng (lễ Ooc Om Bok) và hội đua ghe ngo vào ngày 15 tháng 10 âm lịch. Người Khmer tổ chức lễ cúng trăng để tưởng nhớ đến công ơn của mặt trăng, vì họ coi mặt trăng như một vị thần điều tiết mùa màng, đã giúp họ làm ăn khá giả trong suốt năm, trong lễ cúng trăng người Khmer còn tổ chức lễ đua ghe ngo rất hào hứng. Mỗi khi Phum hay Sóc cần xây dựng cầu, đường, chùa chiền hay trường học, hoặc các công trình lợi ích chung khác, họ thường tổ chức lễ dâng bông để quyên góp tiền bạc của dân chúng trong vùng. Thường thì các sư sãi đứng ra làm chủ lễ cầu nguyện, và các địa phương thường rước các đám hát về giúp vui cho dân địa phương. Người Việt chúng ta có đám cúng giỗ kỵ để tưởng nhớ người thân đã qua đời, thì người Khmer cũng có lễ dâng phước. Bên cạnh những lễ hội của người Khmer, người Việt và người Hoa có lễ hội cúng biển Mỹ Long (quận Cầu Ngang) hay lễ hội Nghinh Ông. Hằng năm lễ cúng biển được tổ chức tại Miếu Bà Chúa Xứ trong ba ngày, từ mồng 10 đến 12 tháng 5 âm lịch. Trong ba ngày này rất nhiều nghi lễ được tiến hành rất trang trọng, như lễ nghinh Ông Nam Hải (trên thuyền là những vị thần hóa trang Quan Công, Châu Xương, Quan Bình), lễ rước Bà Chúa Xứ, lễ rước Cậu, lễ Nghinh Ông (rước cá ông để tỏ lòng biết ơn đã cứu vớt tàu thuyền khi lâm nạn), lễ tế Thần Nông, lễ chánh tế, lễ nghinh ngũ phương đi bộ vòng quanh thị trấn, và nhiều trò chơi dân gian như nhẩy bao, kéo dây, bắt cá kèo hay cá bống. Lễ hội được kết thúc với việc đưa tàu thuyền ra biển. Lễ cúng biển được bắt đầu từ năm 1937, do dân làm nghề biển tổ chức, với mục đích cầu an. Nhưng về sau này, lễ cúng biển đã lôi kéo nhiều người từ các địa phương xa khác trong tỉnh, nên càng ngày lễ hội càng thêm náo nhiệt và có tính cách đại chúng hơn. Dưới đây là một số hình chụp tại tỉnh Trà Vinh của một số nhiếp ảnh gia người Pháp từ năm 1925 đến năm 1945 sưu tập được từ các Công Báo Hành Chánh Nam Kỳ từ năm 1862 đến năm 1945 (Bulletin Administratif de la Cochinchine 1862-1945). Dầu hình ảnh không được rõ ràng, nhưng người viết bài này vẫn mong rằng đây là những hình ảnh kỷ niệm những sinh hoạt của một thời còn dưới sự cai trị của người Pháp


***
Để tiện theo dõi "Về Miền Tây", kính mời Quí Vị mở Link bên dưới:
http://huynhhuuduc.blogspot.com/p/blog-page_60.html


Thứ Hai, 18 tháng 9, 2017

Ý Thu




   Bài Xướng: Ý Thu

Mỗi độ chuyển mùa dạ xốn xang
Sầu dâng lãng đãng đỉnh non vàng ̣
Trời trong mây trắng trôi ngơ ngác
Rừng biếc lá xanh rụng ngỡ ngàng ̣
Thương nắng ráng hồng chiều lạc lõng
Tội thân cò trắng tối lang thang ̣
Cố nhân biền biệt từ thu ấy
Biết gửi về đâu nghĩa cũ càng ̣

                     Phạm Khắc Trí
                     Mây Tần - PKT
 

Phụ Chú:
"Tiếc thay chút nghĩa cũ càng / Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng "
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
 

*** 
Các Bài Họa:
 

             Thu Năm Ấy
Bạn bè mấy đứa cũng xênh xang
Áo mới đem khoe, lúa chín vàng
Hàng xóm cô nàng không muốn liếc
Thôn lân thục nữ cũng đâu ngàng
Các anh tiểu học, đường tam cấp
Mấy chị chung trường, ruộng nấc thang
Khói lửa chiến tranh bùng khắp nẻo
Mùa thu năm ấy chạy bò càng

                  Mai Xuân Thanh
                     Ngày 06/07/17

***
            Cung Xưa


Thanh âm xê cống líu xừ xang
Cung điệu vào thu tiễn hạ vàng
Tích tịch phượng còn ngơ ứ ngẩn
Tình tang cúc chẳng ngó ư ngàng
Đi tìm hương cũ hoài mong nhạn
Muốn hỏi trời xanh khó bắc thang
Ray rức đàn tôi đành lỗi nhịp
Mộng xưa lưu luyến chỉ thêm càng..

                             Quên Đi
***
    Cô Đơn Trên Sông Trăng

Ray rứt câu hò liu...xự...xang...
Trên dòng sông nhuôm ánh trăng vàng
Mái chèo lặng lẽ không khua động
Gã lái buồn thiu chẳng ngó ngàng
Nỗi nhớ người xưa còn chất ngất
Niềm đau tình phụ vẫn thênh thang
Đêm đêm làm bạn cùng mây nước
Chìm đắm cô đơn, ngẫm lại càng...

                                Phương Hà
***
                Tranh Thu
                           (Phỏng Hoạ)
Nàng Thu áo mão cũng xênh xang
Mặc gió heo may điểm lá vàng
Mây trắng,trắng bồng sờ đỉnh núi
Trời xanh,xanh ngắt níu non ngàn
Đường mòn uốn lượn như thân rắn
Đồi cỏ chập chùng tựa bậc thang
Ôi ! ngắm thiên nhiên lòng cảm khái
Bức tranh cảnh cũ đẹp thêm càng....(đẹp)

                           Song Quang
***

Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2017

Vui Cười 81


Chuyện Phiếm

Trong Trong công ty, một chút giải lao 2 thằng bạn nói chuyện. Một thằng hỏi:
- Ê, theo mày thì mày thích con gái như thế nào?
Thằng kia đáp:
- Tao không thích những cô gái có gương mặt đẹp, mà tao chỉ thích những nét đẹp bên trong thôi.
- À, ý mày là tấm lòng ấy hả?
- Không, là những thứ bên trong lớp quần áo đấy :
- !????????

Câu chuyện xảy ra tại chung cư

Có một cặp vợ chồng nọ cưới nhau đã lâu mà vẫn chưa có con. Trong khi đó người hàng xóm ở ngay tầng trên đã có tới 7 đứa con. Suy nghĩ thân phận mình hẩm hiu anh ta quyết định lên nhà anh hàng xóm hỏi bí kíp. Gặp người hàng xóm anh ta nói:
- Tôi thật sự hết cách rồi, tôi không biết làm sao để vợ tôi có thể có bầu được anh à!
Ông hàng xóm liền nói:
- Dễ thôi, nếu bây giờ anh làm đúng theo lời tôi nói thì mọi việc sẽ ổn cả thôi!
Anh chàng sốt sắng:
- Thật à, vậy theo anh thì thế nào?
Ông hàng xóm bật mí:
- Trước tiên, anh hãy mua 1 cục xà phòng loại 1, thật thơm nhé, một lọ nước hoa và một cái chổi cán dài. Rồi sau đó anh bảo vợ anh tắm rửa sạch sẽ, xức nước hoa thật thơm vào người rồi nằm trên giường.
- Thế còn cái chổi cán dài... tôi sẽ làm gì với nó?
- Khi cô ấy đã sạch sẽ thơm tho, anh lấy cái chổi gõ gõ lên trần nhà, tôi sẽ xuống ngay!

-  !!$@%!%#

  KHÔNG BẰNG CON BÒ

. Hai anh chị sinh viên Trường Đại học Nông nghiệp ngồi học bài trên đồi. Chàng trai cặm cụi đọc sách, cô gái nhìn vơ vẩn ngắm cảnh chiều hôm tuyệt đẹp, thỉnh thoảng liếc nhìn anh bạn. Bỗng cô thấy một con bò từ phía sau một quả đồi lồng lên chạy đến chỗ con bò cái đang ăn cỏ phía bên này đồi.
-Anh ơi, tại sao con bò đực ở tít tận bên kia đồi lại biết có con bò cái ở đây mà chạy lại? Cô gái hỏi.
Anh chàng trả lời, mắt vẫn không rời trang sách
:
-Con bò cái cái đến kỳ phát dục phát ra cái mùi đặc biệt, đó là tín hiệu dẫn dụ, con đực không nhìn thấy bạn tình nhưng nó ngửi thấy.
Cô gái không nói gì, lát sau bảo:
-Anh không bằng con bò.
 

(Nguyễn Thế Bình Sưu tầm)

Thứ Sáu, 15 tháng 9, 2017

Nhà Có Phúc



          Con hơn Cha là nhà có Phúc !
    Câu này không riêng cho Việt Nam ! Mà cho toàn thế giới ! Nếu con không hơn Cha thì nhân loại ngày nay vẫn còn ở thời kỳ ăn lông ở lỗ !
    Nhưng một số người Việt lại nói rằng : Trứng không khôn hơn vịt ! Trứng không khôn hơn rận ! Áo mặc sao qua khỏi đầu !!! Ấy thế nên mới có chuyện để nói (!)
    Nói nào ngay , Việt Nam tôi bây giờ là một đất nước Đại Họa (!) Nào thấy có một chút xíu Phúc nào đâu .  Ở các Đại gia thì : Đường thi cử của con , đường công danh của con , đường gia thất của con ... đều do cha mẹ quyết định !
    Có thể con giầu hơn cha , có thể con có địa vị hơn cha... nhưng tất cả đều do Tâm Cơ của cha ... mưu mô của cha ... Tóm lại là cha rất " khôn " nên mới được như thế !!!
    Trước đây có thời người ta hay nói cái câu : " Hy sinh đời bố , củng cố đời con " ý nói rằng dù cha không hanh thông , bị trù dập , ngáng chân , đấu đá ( thậm chí vô tù ) nhưng ráng hết sức dành dụm , uy tín , phe cánh , tiền bạc ... để làm vốn cho con cháu ... sau này. mần ăn với đời !!!  Ai bảo khôn  hay dại không biết nhưng các ông hy sinh này chỉ muốn con có Phúc ( Hưởng Thụ ) hơn mình dù nó ngu đần , thiếu trí (!) . Nhưng các cô cậu thanh niên đời nay đâu thích một sự xếp đặt như thế ! Dù là xếp đặt từ trên hay xếp đặt từ ngang... Các con rận này mới quậy tối đa . Các cụ đâu biết thời thế đã thay đổi quá mau ! Thanh niên muốn tìm chân trời mới (?) , thích cảm giác mạnh (!) , thích mạo hiểm ... Các cụ đâu biết vi tính , các cụ chẳng hiểu gì về thế giới hiện đại . Các cậu không thích hơn cha những cái trò láu cá vặt !!! Các cụ cứ muốn con cháu phải tự nhân mình là : " con cháu các cụ cả "
    Đôi khi các cậu thấy cha mẹ kể chuyện : Tham Nhũng , Độc Ác , Hại Nhau , Ngoại Tình ... ngay trước mặt các con , hoặc không kể nhưng con cháu tự biết vì ... nghe lời đồn..... Thế cho nên các cậu chán đời ! và quậy phá !.  Một vị đệ nhứt tiểu thư , con ông chủ tịch có lẽ chán những chuyện quái đản nên tới Đà Lạt ẩn cư , không làm quan lớn  ! Bà làm một lâu đài quái dị (!) . Có lẽ các bậc trưởng thượng trong nhà cho bà là Điên ! Nhưng tôi không biết là ai quái dị hơn ai ? Ai điên hơn ai ?
    Ôi ! Tương lai Việt Nam sẽ đi về đâu nếu các cậu thanh niên theo đường các cụ ? Phản Đối các cụ ? Hoặc tìm một con đường khác ?

                                                   C.D.M.


Thứ Tư, 13 tháng 9, 2017

Tranh Sơn Thuỷ


Đây bức dư đồ đã điểm trang
Ông cha chấm phá lộng mây ngàn
Bạt rừng xẻ núi công khai phá
Mở đất xây thành chí dọc ngang
Biển đảo một vùng xanh tựa ngọc
Non sông liền dãy ánh như vàng
Tiền nhân khéo vẽ tranh sơn thuỷ
Tồn tại bao đời với thế gian.
                            Quên Đi

***

Thứ Ba, 12 tháng 9, 2017

Đông Đình Nhàn Vọng - Bạch Cư Dị


東亭閑望         Đông Đình Nhàn Vọng                     
        
白居易              Bạch Cư Dị

東亭盡日坐,     
Đông đình tận nhật tọa                          
誰伴寂寥人?    
Thùy bạn tịch liêu nhân ?                
綠桂為佳客,     
Lục quế vi giai khách,                              
紅蕉當美人.     
Hồng tiêu đáng mỹ nhân.                   
笑言雖不接,     
Tiếu ngôn tuy bất tiếp,                   
情狀似相親.     
Tình trạng tự tương thân.         
不作悠悠想,     
Bất tác du du tưởng,                               
如何度晚春?    
Như hà độ vãn xuân ? 
 

Nhàn Ngắm Từ Đình Phía Đông
 


Cả ngày ngồi ở đình phía đông, 
ai sẽ là bạn cho kẻ nhàn nhã này ? 
Cây quế xanh có thể là vị khách quý, 
cây chuối hồng đáng mặt người đẹp. 
Tuy không trực tiếp nói cười được, 
nhưng tình trạng như thật thân thiết. 
Nếu không tưởng tượng rộng rãi như vậy, 
làm sao ta có thể qua được những ngày xuân muộn này ?


--Bản dịch của MaiLộc 

Ngồi suốt ngày đình đông lặng lẽ , 
Ai bạn nhàn với kẻ nầy đây ? 
Quế xanh khách qúi
nầy nầy , 
Chuối hồng người đẹp hây hây bạn lòng . 
Tuy chẳng cười cũng không giao tiếp , 
Nhưng tình thân thắm thiết vô cùng . 
Nếu không tưởng tuợng mông lung , 
Làm sao chống chỏi nỗi buồn cuối xuân ? 

                                                   ML
***
Ngắm cảnh từ Đông Đình

Suốt ngày nhàn tản ở Đông Đình
Biết có ai đâu bạn với mình
Quế biếc xem như người khách quý
Chuối hồng nào khác kẻ đoan trinh
Nói cười tuy chẳng cùng giao tiếp
Thân thiết dường như đã trọn tình
Nếu chẳng hình dung ra sự thể
Làm sao qua được buổi xuân tàn ?
              Phương Hà phỏng dịch
***

Phía Đông Của Đình Ngắm

Ngồi nơi đình phía đông
Cảnh vắng bạn thì không
Quế biếc làm thân khách
Người xinh ấy chuối hồng
Nói cười tuy chúng chẳng
Nhưng cũng thấy vui lòng
Đành phải nghĩ như thế
Để xuân được chút nồng
                       Quên Đi
***

Thứ Hai, 11 tháng 9, 2017

Ví Dầu




 
Xướng: Ví Dầu  
Ví dầu em ở hay đi  
Cũng xin để lại chút gì với nhau   
Một mai nước chảy qua cầu  
Ta còn cái thuở ban đầu chớm yêu 
                      Trần Bang Thạch 
*** 
Các Bài Họa: 

Ví Dầu  
Dẫu mà kẻ ở người đi 
Nghìn thu còn mãi những gì trao nhau 
Ví dầu con tạo cơ cầu 
Trái tim chửa xóa mộng đầu ấp yêu 
                                Kim Phượng 
*** 
Giá Như 

Từ người cất bước ra đi 
Nghìn trùng cách biệt mong gì gặp nhau 
Giá như Ô Thước bắt cầu 
Tháng bảy Ngưu Chức buổi đầu trao yêu 
                                   Kim Oanh 
*** 
Dù sao 
Dù sao người cũng đã đi 
Thì xin giữ kỷ niệm gì cho nhau 
Dòng trôi nước cuốn chân cầu 
Bóng hình xưa giấc mộng đầu vào yêu 
                                   Song Quang 
*** 
Dặn lòng 
"Người ta" lặng lẽ ra đi ! 
Dặn lòng giữ lại những gì cho nhau 
Dù cho nghịch cảnh cơ cầu 
Đừng làm tan vỡ tình đầu vừa yêu! 
                       Song MAI Lý Lệ 
*** 
Còn Chăng? 

Người ơi chớ vội quay đi 
Để ta còn được những gì cho nhau 
Chớ đừng như nước với cầu 
Buông trôi kỷ niệm buổi đầu mình yêu. 
                                      Quên Đi
 *** 
Chia Tay 

Chia tay bịn rịn em đi 
Hôn nhanh môi mắt có gì nhớ nhau 
Ôm em như mống trên cầu 
Niềm thương da diết buổi đầu mới yêu... 
                                    Lý Tòng Tôn 
*** 
Các Bài Cảm Tác: 

Thương 

Thu về đông tới xuân đi 
Tiếc thời hoa bướm thầm thì bên nhau. 
Em ơi mây đã qua cầu, 
Còn đây cái nghĩa nhuộm màu tin yêu. 
                                       Mailoc 
*** 
Ví Dầu 

Ví dầu lòng bậu muốn đi, 
Lòng tôi muốn để chút gì cho nhau. 
Một mai có bước qua cầu, 
Cầu bao nhiêu bước dạ sầu hơn yêu! 
                        Đỗ Chiêu Đức 
*** 
Ngậm ngùi 

Sao người nỡ bỏ ta đi 
Không lời từ biệt, chắc gì đợi nhau !? 
Nhìn dòng nước dưới chân cầu 
Miên man nỗi nhớ, rầu rầu dạ yêu. 
                          Phương Hà 
*** 
Còn Yêu 
Ghe tàu anh trốn mau đi 
Còn em ở lại bầu bì nhớ nhau 
Nhược bằng nối được nhịp cầu  
Ấm no chia sớt, buổi đầu còn yêu ! 
                    Mai Xuân Thanh
                Ngày 20 tháng 07 năm 2017 
*** 
Ví dầu 

Ví dầu chuyến lỡ tàu đi 
Duyên còn đứng đợi lấy gì tặng nhau 
Chiều lơ lửng bóng qua cầu 
Hồn trôi lơ lững mối sầu tàn canh
                           Mai Thắng
                              170721

Thứ Bảy, 9 tháng 9, 2017

BACHATA BASIC

Mời Các Bạn cùng thưởng thức điệu nhảy Bachata cơ bản:

https://www.youtube.com/watch?v=RZw3vskH258

Không quá sôi động như Chachacha, Nhưng vẫn đầy tính lãng mạn.Mình rất thích sự mềm dẻo của đôi chân trong điệu nhảy này.
***

Thứ Sáu, 8 tháng 9, 2017

Gặp


Xướng: Gặp

Em chờ đợi đã bao lâu
Khi ta tìm được tóc màu gió sương
Phải chăng vì đã sai đường
Nên mình cách biệt hai phương xa rời
Giờ đây mỗi kẻ mỗi nơi
Câu thơ đối đáp kết lời giao duyên.

Quên Đi
***
Các Bài Họa:
 
Hoa Và Gió
Hữu duyên ắt gặp từ lâu
Đâu chờ đến lúc phai màu tóc sương
Em như hoa mọc bên đường
Anh, cơn gió thổi muôn phương chẳng rời
Cuối mùa, gió ghé đến nơi
Hoa đâu còn thắm cho lời trao duyên!

Phương Hà
***
Cuối Đời

Cuộc đời phát họa từ lâu
Thay đen đổi trắng phai màu bạc sương
Sa chân lỡ bước cùn đường
Đắc nhân tâm độ muôn phương khổ rời
Cuối đời về lại một nơi
Đừng quên chén tạc trót lời kết duyên

Kim Oanh
***
Gặp


Trăng tàn hè phố đã lâu
Trôi qua ngày tháng trắng màu tuyết sương
Chim lồng lối tắt cùn đường
Hướng dương hoa chỉ một phương chẳng rời
Dù trời chia cách đôi nơi
Trúc mai kết nghĩa thơ lời bén duyên

Kim Phượng
***
Cảm Tác:
Chia Tay


Chia tay biệt xứ cũng lâu
Gặp nhau hai đứa ôm sầu tuyết sương
Tình xưa nghĩa cũ đôi đường
"Châu về Hợp Phố" cung thương rã rời
Cố nhân vương vấn chung nơi
Thỏa lòng mơ ước ở đời nên duyên...

Mai Xuân Thanh

Ngày 22 tháng 07 năm 2017
***
Tự Tình

Đời còn lại được bao lâu
Vẫn trông bóng nhớ đón tàu hồi quê
Vườn xưa hoa thắm vẫn về
Thu xưa ánh thắm trăng thề vẫn say
Người như trái tượng trên cây
Qua mùa chín mãn rụng đầy trước sân
Ngước nhìn trời rộng bâng khuâng
Cánh dìu đã xếp người thân phương nào

Dù đời còn chẳng bao lâu
Giữ hồn xưa cũ, gìn màu thủy chung
Quê hương nỗi tủi khôn cùng
Lòng nhân vô cảm, nét hùng dở ương
Ngậm ngùi con sóng trùng dương
Đưa tình tách bến, chờ thương trở về!

Mai Thắng
170724

Thứ Năm, 7 tháng 9, 2017

Từ Vùng Đất Biên Đến Tỉnh Biên Hòa-Đồng Nai - P3 (Đất Phương Nam TT)

Trại thuỷ phi cơ trước chợ Biên Hoà
Địa Thế, Núi Non, Và Khí Hậu Trong Vùng Đất Biên Hòa:


Tuy có nhiều sông ngòi và kinh rạch, nhưng địa thế đất lại cao nên Biên Hòa không thuận tiện cho việc trồng lúa nước. Ngược lại, tính từ năm 1924, Biên Hòa đứng đầu toàn quốc về ngành trồng cao su. Ngoài ra, Biên Hòa rất thích hợp cho việc trồng dừa, cà phê, thuốc lá, đậu phộng, thơm và các loại rau quả. Rừng Biên Hòa có rất nhiều gỗ quí như gỗ lim, gỗ trắc, gõ, cẩm lai, thao lao, sao, dầu, vân vân. Thời Nam Kỳ Lục Tỉnh, Biên Hòa là một vùng bao la rộng lớn chạy dài từ Bình Long, Phước Long, Long Khánh, Thủ Dầu Một, xuống Biên Hòa bây giờ, đến tận Bà Rịa.


Bắc giáp tỉnh Bình Tuy và Bình Thuận (Phan Thiết), nam giáp tỉnh Gia Định, đông ra tận biển Đông, tây giáp vùng Sài Gòn và tỉnh Hậu Nghĩa thời VNCH(28). Về núi non thì có núi Chứa Chan, núi Chiêu Thái (Châu Thới), núi Long Ẩn... Về phía nam huyện Phước Chính là các núi Bảo Phong, Bạch Thạch, Long Ẩn, Châu Thới, núi đá chen lẫn cây cỏ tốt tươi. Về phía tây bắc huyện Phước Bình có núi Tấn Biên. Về phía nam huyện Phước Bình là các núi Chánh Hưng, Yến Cẩm, núi Văn, núi Thần Qui, núi Nưa, núi Xoài, núi Thỏ, núi Mô Khoa, núi Tà Mô Liên, núi Trà Cụ, núi Châu San. Về phía nam huyện Phước An có các núi Tiên Cước, Bà Rịa, Thùy Vân, núi Nứa. Về phía đông và đông nam huyện Phước An là núi Đất, núi Ghềnh Rái, và núi Thần Mẫu. Phía bắc huyện Phước An là núi Kho, núi Đỏ. Phía nam huyện Long Thành là núi Ký Sơn, núi Nữ Tăng. Phía tây và tây bắc Long Thành là gò Khổng Tước và núi Thiết Khâu. Phía tây của Phước Long là núi Uất Kim. Đông bắc của Long Khánh là núi Hương Sơn và núi Nha Duẫn, núi Làng Giao. Phía tây của Long Khánh là núi Câu Khánh. Phía Bắc của huyện Phước Khánh là núi Chứa Chan. Như vậy Biên Hòa xưa bao gồm một vùng rộng lớn mà bây giờ gồm các tỉnh Biên Hòa, Phước Long, Vũng Tàu, Và Rịa và một phần của Gò Công.

Trong vùng đồi thấp giữa Vĩnh Cửu và Tân Uyên, trước khi sông Bé gặp sông Đồng Nai là thác Trị An, khúc nầy thế đất cao với toàn những đá lỡm chởm. Thác Trị An tọa lạc trong vùng xóm Cát, cách quận lỵ Hiếu Liêm, tức xóm Sông Bé ngày xưa, khoảng 3 cây số, và cách thành phố Biên Hòa khoảng 36 cây số nếu đi theo tỉnh lộ 762. Hồ Trị An chảy trở vào sông Đồng Nai, khi qua khỏi khu Vĩnh An, có một cụm đá nằm chắn ngang giữa lòng sông, gần như lấp mất dòng chảy của con sông. Về mùa khô, bảy tảng đá lớn nầy nhô lên khỏi mặt nước, vì vậy mà dân trong vùng còn gọi là ‘Thất Thạch Than’. Có những tảng đá bóng nhẵn, cũng có những tảng bị rạn nứt, hoặc có hình dạng sù sì. Về mùa mưa, nước trên nguồn đổ xuống rất mạnh, đến chỗ đá cản, tạo thành hàng trăm cây nước vọt lên cao, rồi rơi xuống như những chùm


hoa bạc đang rơi lả tả trong gió vậy. Những chùm nước nầy vọt qua khỏi rào cản, rơi xuống trở lại dòng nước theo hình vòng cung, đó là thác nước Trị An(29).

Sau năm 1975, chánh quyền mới bãi bỏ tỉnh Long Khánh và sáp nhập các vùng


Long Khánh và Xuân Lộc vào Biên Hòa để thành lập tỉnh Đồng Nai. Về phía Bắc của huyện Phước Khánh là núi Chứa Chan(30). Núi tọa lạc trên phần đất xã Gia Ray, cách lỵ sở xã Gia Ray chừng 2 cây số dọc theo quốc lộ 1A. Núi chiếm một diện tích
khoảng 600 mẫu đất, gồm ba ngọn, và ngọn cao nhất khoảng 803 mét. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, núi Chứa Chan tọa lạc khoảng 56 dặm về phía bắc huyện Phước Khánh, hình núi cao sừng sững, gần chân núi có khe Dạ Lao, giáp giới với huyện Long Khánh, tức tỉnh Long Khánh thời Việt Nam Cộng Hòa. Trên núi có nhiều loại dây mây, như mây thiết, mây tàu, cũng như nhiều loại cây gỗ khác. Ỏ giữa núi có thạch động và thạch tỉnh. Theo truyền thuyết của dân bản địa tại đây thì vùng đất Long Khánh ngày nay đã từng là bãi chiến trường giữa Chân Lạp và Champa.


Về khí hậu, toàn vùng Biên Hòa là vùng đất cao ráo, lại nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa gần xích đạo, nên khí hậu gần như nóng và ẩm quanh năm, nhưng tương đối ôn hòa và ít bị thiên tai bão lụt. Cũng như các vùng khác ở miền Nam, toàn vùng Đồng Nai-Biên Hòa có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4. Nhiệt độ trung bình khoảng 26o C. Số giờ có nắng trung bình là 6 giờ trong một ngày. Đây là vùng đất có lượng nước mưa khá cao: 2.080 mm mỗi năm. Dầu có lượng nước mưa khá cao, không như vùng đồng bằng sông Cửu Long, cảnh quang trong núi rừng phía bắc Biên Hòa về mùa khô có vẻ xơ xác, với những con suối cạn nước, nhưng về mùa mưa thì cây cối trở lại xanh um. Bằng chứng điển hình là những con thác Giang Điền và Thác Mai, vào mùa mưa thì nước đổ ầm ầm, nhưng vào mùa khô thì lượng nước chỉ còn lại khoảng phân nửa thác mà thôi. Tuy nhiên, vùng Biên Hòa chỉ có mưa rào chứ không bị mưa dầm. Đến gần tiết Đông Chí, thỉnh thoảng về đêm mới có sương nên tiết trời có phần khá lạnh. Mùa hè và mùa thu có gió Nồm, mùa đông và mùa xuân có gió Bấc. Trong những năm gần đây, cũng như nhiều nơi khác ở miền Nam, tiết trời có vẻ nóng hơn, có lẽ vì rừng rậm ngày càng bị thu hẹp.


Cù Lao Phố Một Thời Vang Bóng:


Từ hồ Trị An ra đến Biển Đông, sông Đồng Nai để lại nhiều cù lao lớn nhỏ trên dòng chảy. Đặc biệt, khi chảy đến gần khu tỉnh lỵ Biên Hòa thì chia làm hai nhánh, chính giữa là một cù lao thuộc làng Hiệp Hòa, có tổng diện tích khoảng 6,93 cây số vuông. Không biết trước khi Tướng Trần Thượng Xuyên đến đây thì cù lao nầy có tên gì, nhưng sau khi ông lập ra phố phường trên cù lao nầy thì từ đó dân gian gọi nó là ‘Cù Lao Phố’. Vì người Trung Hoa thì gọi những phần đất thuộc lãnh thổ Chân Lạp là ‘Giản Phố Trại’, nên có lẽ khi đến định cư tại đây, tướng Trần Thượng Xuyên đã dùng tên nầy mà đặt cho vùng đất mà mình mới khai phá là ‘Nông Nại Đại Phố’. Người dân địa phương tại còn gọi là ‘Đông Phố’ hay phố ‘Bàng Lân’. Đây là một trong những thương cảng sầm uất nhất của xứ Đàng Trong vào cuối thế kỷ thứ XVII. Các thương thuyền từ các nơi khác như Trung Hoa, Nhật Bản, Mã Lai, Ấn Độ, và ngay cả từ các xứ Âu Châu... ra vào buôn bán tấp nập. Ngay từ giữa thế kỷ thứ 18, nhờ thương mại phát triển nên lưu dân từ các miền Thuận Quảng đổ xô về đây lập nghiệp. Và cũng nhờ đó mà các ngành nghề khác cũng phát triển theo, nhất là các ngành thủ công nghiệp và nông nghiệp. Chỉ không đầy 10 năm sau khi tướng Trần Thượng Xuyên vào đây khai hoang lập phố thì vùng Cù Lao Phố đã nhanh chóng trở thành vùng đất trù phú nhất miền Nam. Nông nghiệp tăng năng suất rất nhanh; trong khi các ngành nghề thủ công truyền thống như dệt chiếu, trồng dâu, nuôi tằm và dệt vải, gốm sứ, trồng mía để làm đường, ngành mộc và chạm trổ mỹ thuật, rèn dao mác và cung tên, vân vân, phát triển rất mạnh. Hiện nay tại vùng xung quanh chùa Tân Giám Bình hãy còn lưu lại nhiều dấu tích và di vật của những ngành nghề cổ truyền của vùng đất nầy hơn 300 năm về trước.


Triều đình xứ Đàng Trong cũng gọi khu nầy là Đại Phố Châu, tức Bãi Đại Phố.


Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển Thượng: “Cù Lao Phố chỗ sông sâu thuận tiện cho tàu biển đậu. Năm 1679, Tổng Binh Trần Thượng Xuyên dẫn theo một đoàn người xin cư trú tại Việt Nam và được chúa Nguyễn chấp thuận cho vào khai khẩn đất Nông Nại. Sau khi khẩn hoang lập ấp, Trần Thượng Xuyên đã chiêu tập thương


buôn nước Tàu, xây dựng đường sá, nhà lầu đôi tầng, mái ngói đỏ, tường quét vôi trắng rực rỡ bên sông, liền lạc năm dặm và phân hoạch ra ba nhai lộ, nhai(31) lớn ở


giữa phố lót đá trắng, nhai ngang lót đá ong, và nhai nhỏ lót đá xanh, đường rộng, bằng phẳng, người buôn tụ tập đông đúc, tàu biển, ghe sông đến đậu chen lấn nhau, còn những nhà buôn to ở đây thì nhiều hơn hết, lập thành một đại đô hội”. Trần


Thượng Xuyên lại khéo chỉ huy và tổ chức, quy tụ các thương nhân người Hoa ở các nước khác đã có mối quan hệ từ trước, các nhà buôn bán chuyên nghiệp có vốn lớn, giàu kinh nghiệm đến xây dựng Cù Lao Phố thành một thương cảng quốc tế phồn thịnh vào bậc nhất thời đó, được mang tên là “Châu Đại Phố Cảng.” Khi Nguyễn


Hữu Cảnh vào kinh lược đất Nông Nại, ông đã đặt Tổng hành dinh của mình tại Cù Lao Phố để từ đó tiến hành xây dựng bộ máy hành chánh cho toàn vùng đất Nam Kỳ. Nhờ đó mà Cù Lao Phố nhanh chóng đi vào nề nếp kỷ cương và ổn định tại miền Nam. Hiện tại, trong địa phận Cù Lao Phố còn có một di tích lịch sử khá lâu đời, đó là ngôi mộ và miếu thờ quan Chưởng Cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh. Quan Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh là con của quan Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật, một danh tướng thời Nguyễn Sơ (Nguyễn Hữu Cảnh sanh năm 1650 và mất vào năm 1700). Ông chính là người đầu tiên thiết lập bộ máy hành chánh cho vùng Biên Hòa nói riêng, và cho cả miền Nam nói chung. Năm 1698, sau , chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh vào Kinh Lược vùng đất Nông Nại. Ông đã vâng lệnh chúa chia đất Đồng Nai ra làm hai huyện Phước Long có dinh Trấn Biên, và huyện Tân Bình có dinh Phiên Trấn. Về sau, miền Nam có loạn Hoàng Tiến, chúa Nguyễn sai Mai vạn Long đem quân đánh dẹp, nhưng không xong; chúa lại sai Hào Lương Hầu Nguyễn Hữu Hào (anh ruột Nguyễn Hữu cảnh) vào thay, nhưng cũng không xong. Chúa Nguyễn bèn sai quan Chưởng Cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đem quân sang chinh phạt Chân Lạp. Sau khi thắng trận, trên đường trở về, khi đóng quân tại cù lao Ông Chưởng bây giờ, ông lâm bệnh, rồi qua đời trên đường trở về Gia Định. Di hài của ông được mang về chôn cất tại quê hương Quảng Bình. Trên đường đưa linh cữu về quê quán, quan quân đã ghé lại cù lao Phố, nơi mà ngày trước ông đã đặt đại bản doanh khi còn làm quan Kinh Lược. Dân chúng trong vùng nhớ ơn ông nên lập miếu thờ. Hiện đền thờ của ông tại đình Bình Kính vẫn ngày ngày khói hương nghi ngút. Đến năm 1776, sau cuộc kịch chiến giữa nghĩa binh Tây Sơn và quân đội của Nguyễn Ánh, toàn bộ vùng Cù Lao Phố đã bị tàn phá, đến nay không còn lưu lại dấu vết nào cả.


Vùng Cù Lao Phố còn được dân chúng một truyền tụng rất nhiều về ông ‘Thủ Huồng’. Thủ Huồng tên thật là Võ Thủ Hoằng, một thương gia giàu có khét tiếng dưới thời chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn. Tuy nhiên, ông không có con cái, mà vợ lại chết sớm, nên ông tỏ ra buồn rầu trong cuộc sống hiu quạnh của mình trong lúc tuổi về già. Khi sống trong cô quạnh, ông tỏ ra hối hận về những hành động bất chánh của mình lúc sinh thời. Từ đó, để chuộc lại lỗi lầm của mình, ông đã cho trả hết ruộng vườn cho những ai đã cầm cố cho ông. Bên cạnh đó, ông bỏ ra hết số tiền của của mình để làm phước đức như làm đường, bắc cầu, xây chùa, cất chợ, dựng nhà tế bần. Đáng kể nhất là việc ông lập nên một chiếc nhà bè thật lớn trên sông Đồng Nai, trên nhà bè có đầy đủ gạo, mắm, than, củi, vân vân, nhằm giúp đỡ những khách lỡ đường trên dòng sông nầy. Về sau nầy, nhiều người đã tới đây lập nghiệp bằng cách xây dựng một khu nhà bè trên khúc sông nầy, và danh từ ‘Nhà Bè’ cũng từ đó mà có.

Sau khi ông Thủ Huồng mất rồi, người dân trong vùng đem bài vị của ông vào thờ


trong chùa và gọi đó là chùa ‘Thủ Huồng’. Khoảng năm 1845, vua Đạo Quang (1821-1850) có gửi qua cúng cho chùa Thủ Huồng 3 pho tượng Phật bằng vàng(32).


Vùng Cù Lao Phố còn là quê hương của Trịnh Hoài Đức, một trong ba nhân vật kiệt xuất(33) của vùng đất Gia Định vào cuối thế kỷ thứ XVIII. Trịnh Hoài Đức(34)


hậu duệ của Trịnh Khánh, một trong những người Minh Hương đã theo tướng Trần Thượng Xuyên đến khai phá vùng Cù Lao Phố. Vì thân phụ mất lúc ông vừa tròn 10 tuổi, nên thân mẫu của ông phó thác ông cho cụ Võ Trường Toản dạy dỗ. Ông đậu cử nhân vào năm 1778 tại Gia Định. Sau khi thi đỗ, ông được tiến cử chức Hàn Lâm Chế Cáo, rồi được Nguyễn Ánh cho sung chức Đông Cung Thi Giảng. Năm 1794 được thăng chức Ký Lục dinh Trấn Định, tức vùng Định Tường ngày nay. Năm 1801, nhậm chức Hộ Bộ Tham Tri. Năm 1802, Thượng thư Bộ Hộ. Cùng năm đó, ông đã cùng Ngô Nhơn Tịnh đi sứ sang Trung Hoa để dâng quốc thư cầu phong lên vua nhà Thanh. Dưới thời vua Minh Mạng, ông được cử làm Lại Bộ thượng thư, rồi Phó Tổng Quốc Tử Giám, Hiệp Biện Đại Học Sĩ, Thượng Thư Bộ Binh. Trong các kỳ thi tại Huế, ông đều được nhà vua cử làm chánh chủ khảo. Ngoài ra, ông còn là một nhà biên khảo nổi tiếng với những tác phẩm ‘Lịch Đại Kỷ Nguyên’, ‘Khương Tế Lục’ và ‘Gia Định Thành Thông Chí’. Riêng bộ ‘Gia Định Thành Thông Chí’ là một bộ biên khảo quí giá về cả địa lý lẫn lịch sử của miền Nam vào khoảng thế kỷ thứ XVIII và XIX. Đây là một trong những kho tàng tài liệu vô giá cho tất cả những nhà biên khảo về sau nầy. Trịnh Hoài Đức mất tại Huế vào năm 60 tuổi. Thi hài của ông được đưa về an táng tại vùng Bình Trước, thuộc tỉnh Biên Hòa ngày nay. Ông là một vị quan tài ba xuất chúng, tài đức vẹn toàn; một vị quan thanh liêm giản dị, luôn luôn hết lòng vì vua vì nước và luôn chăm lo làm những việc ích nước lợi dân. Trải qua hai triều Gia Long và Minh Mạng, lúc nào ông cũng hoàn thành trọng trách được nhà vua giao phó.

*** 

Để tiện theo dõi "Đất Phương Nam 1", kính mời Quí Độc Giả mở Link bên dưới:
https://huynhhuuduc.blogspot.com/p/blog-page_53.html

***